Cao
huyết áp do thai kỳ là một trong những vấn đề quan trọng trong sản khoa, đặc
biệt là tiền sản giật và sản giật làm gia tăng các nguy cơ như nhau bong non,
suy thận, các biến chứng tim mạch hay mạch máu não và thậm chí dẫn đến tử
vong.
Ngoài ra, cao huyết áp do thai kỳ gây ảnh hưởng đáng kể đến sự phát
triển của thai nhi, tăng tỷ lệ bệnh suất và tử suất. Bên cạnh việc giải quyết
nguyên nhân bằng cách chấm dứt thai kỳ, thì điều trị ổn định cao huyết áp là vấn
đề tiên quyết, đóng vai trò thiết yếu trong điều trị cao huyết áp do thai
kỳ.
1. Cơ chế của thuốc hạ áp có nguồn gốc patalazine
Hydralazine
hydrochloride là thuốc hạ áp có nguồn gốc từ patalazine, với cơ chế tác dụng là
tạo ra ocid nitric (NO) trong tế bào cơ trơn, giúp làm giãn các cơ trơn trong
mạch máu. Hydralazine làm giãn mạch trực tiếp, cho tác dụng lên động mạch mạnh
hơn là lên tĩnh mạch. Sau khi uống, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được sau
2 giờ là 1,6-3,2mcg/ml.
Thuốc bắt đầu có tác dụng hạ áp sau khi uống 20
phút và kéo dài 2-4 giờ (Bệnh nhân được theo dõi huyết áp mỗi 4-6 giờ/ngày).
Labetalol hydrochloride là thuốc ức chế beta không chọn lọc và ức chế chọn lọc
alpha-1, có tác dụng làm giảm sức căng mạch máu, hạ áp nhanh trong những trường
hợp cao huyết áp cấp, nặng, có ưu điểm là không gây tăng nhịp tim như các thuốc
hạ áp khác.
Sau uống, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được từ 40 phút
đến 120 phút với nồng độ 323mg/ml. Thuốc có tác dụng sau uống là 20 phút, tối đa
sau 1 giờ và kéo dài 8 giờ.
Chúng tôi đã sử dụng hydralazine để hạ áp cho
98 trường hợp và labetolol trong 97 trường hợp tiền sản giật nặng, kết quả có
khoảng 1/3 trường hợp huyết áp không ổn định dù đã được điều trị bằng
hydralazine và labetolol.
Tỷ lệ các biến chứng của thai phụ trong nhóm sử
dụng labetalol (26,1%) cao gấp 2 lần so với nhóm dùng hydralazine (10,2%). 9%
sản phụ sử dụng labetolol bị sản giật so với 1% trong nhóm sử dụng hydralazine
(P.0,01). Ngoài ra, các biến chứng phù phổi cấp, băng huyết sau sinh cũng thường
gặp trong nhóm sử dụng labetolol.
Tình trạng thai nhi giữa 2 nhóm không
có sự khác biệt đáng kể, không ghi nhận có trường hợp nào mất tim thai trong
chuyển dạ.
2. Nghiên cứu so sánh về các thuốc hạ áp
Điều trị ổn định
huyết áp đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị biến chứng tiền sản giật.
Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc hạ áp phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của bác sĩ
lâm sàng, vì thực tế còn thiếu những bằng chứng khách quan làm cơ sở cho việc
thiết lập phác đồ điều trị hiệu quả.
Sử dụng thuốc hạ áp để ổn định huyết
áp không chỉ phụ thuộc vào liều thuốc, cách sử dụng mà còn vào tình trạng bệnh
(đa số bệnh nhân có tổn thương thận với lượng đản bạch trung bình 5,23g/l). Do
đó, việc ổn định huyết áp cho những trường hợp này thường rất khó
khăn.
Xét về hiệu quả “ổn định huyết áp” trực tiếp, kết quả này một lần
nữa khẳng định không có bằng chứng về hiệu quả vượt trội của hydralazine so với
labetolol và ngược lại.
Trong một nghiên cứu gần đây nhất của nhóm bác sĩ
Magee (LA, 2003): Qua phân tích số liệu từ 5 thử nghiệm lâm sàng so sánh
labetolol và hydralazine trong điều trị cao huyết áp ở thai phụ, ghi nhận không
có sự khác biệt về tỷ lệ cao huyết tồn tại sau điều trị giữa 2 nhóm.
Như
vậy, vẫn chưa thể xác định thuốc hạ áp nào là tốt nhất vì cả hydralazine và
labetolol đều có tỷ lệ điều trị thất bại tương tự nhau. Trong khi chưa có bằng
chứng mới, hydralazine vẫn được xem là lựa chọn đầu tiên trong điều trị ổn định
cao huyết áp thai kỳ.
Theo Sức Khoẻ Đời
sống
-----------------------------------
Giảng
Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
-----------------------------------
tháng 1 21, 2011
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét