BS. NGUYỄN VĂN
PHÒNG
Bệnh Viện Triều
An
ĐẠI CƯƠNG
Năm 1973, một bệnh nhân nữ 59
tuổi bị bệnh cơ tim giãn nở được điều trị với thuốc ức chế beta lần đầu tiên
(1). Nhiều năm sau đó là nhiều công trình lớn chứng tỏ được lợi ích của thuốc ức
chế bêta trong điều trị suy tim: như MDC (Metoprolol in Dilated Cardiomyopathy)
năm 1993 ; CIBIS I (Cardiac Insufficiency Bisoprolol Study) năm 1994, U.S.
CARVEDILOL năm 1996.
Năm 1997 là năm có rất nhiều
công trình nghiên cứu như CIBIS II, MOCHA (Multicenter Oral Carvedilol Heart
Failure Assessment) , PRECISE (Prospective Randomized Evalution of Carvedilol on
Symptoms and Exercise), ANZ-TRIAL. Đã được thực hiện (bảng 1).
| Tử nghiệm | số b/nhân | nhập viện | P |
| MDC (1993 ) | 383 |
26% Metoprolol 44% Placebo |
0.04 |
| CIBIS ( 1994 ) | 641 |
19% Bisoprolol 28% Placebo |
0.01 |
| ANZ ( 1995 ) | 1094 |
14.1 % Carvedilol 19.6 % Placebo |
|
| CIBIS II | 2647 |
. mọi nguyên
nhân 33.6 % Bisoprolol 39.5 % Placebo . suy tim : 11.9 % Bisoprolol 17.6 % Placebo |
0.002 0.00005 |
Trong 23 năm, từ 1973 đến
1996, quan điểm dùng thuốc ức chế bêta để điều trị suy tim đã thay đổi từ không
thể chấp nhận được đến đáng tin cậy. Hiện tại có khoảng 13 loại thuốc ức chế
beta trong đó một số dã có những thử nghiệm lâm sàng được dùng trong suy
tim.
THUỐC ỨC CHẾ BETA
TRONG SUY TIM
Trong sinh lý bệnh của suy
tim, ta thấy có hai hiện tượng quan trọng liên quan đến hoạt động của hệ thần
kinh thể dịch: hiện tượng co mạch và tăng thể tích tuần hoàn. Những thay đổi
quan trọng trên chính là do sự tăng hoạt tính của hệ
renin-angiotensin-aldosteron (RAA) và hệ thần kinh giao cảm . Thuốc ức chế men
chuyển đã giúp giải quyết hoạt động của hệ thần kinh thể dịch. nhưng hoạt động
thần kinh giao cảm vẫn chưa bị khống chế. Ðó là vai trò tác động của thuốc ức
chế bêta trên cơ chế bệnh sinh này
Trên bệnh nhân suy tim, sử dụng lâu dài thuốc ức chế bêta cho thấy có cải thiện về huyết động học: tăng chỉ số nhát bóp, tăng EF, giảm áp lực mao mạch phổi bít, cơ chế làm tăng EF là do cải thiện về sức co của cơ tim ( bảng 2 )
Trên bệnh nhân suy tim, sử dụng lâu dài thuốc ức chế bêta cho thấy có cải thiện về huyết động học: tăng chỉ số nhát bóp, tăng EF, giảm áp lực mao mạch phổi bít, cơ chế làm tăng EF là do cải thiện về sức co của cơ tim ( bảng 2 )
|
|
thuốc
|
số cas
|
EF %
|
cải thiện
t/ chứng
|
|
MDC ( 1993 )
Olsen ( 1995 )
CIBIS ( 1994 )
ANZ ( 1995 )
PRECISE ( 1996 )
MOCHA ( 1996 )
|
Metoprolol
Carvedilol
Bisoprolol
Carvedilol
Carvedilol
Carvedilol
|
383
60
641
276
276
345
|
+ 6%
+ 10%
+4.6 %
+5 %
+5 %
+6 %
|
+
+
+
+/-
+/-
+/-
|
Theo các hướng dẫn hiện nay,
thuốc ức chế bêta phải được kê cho thất cả các bệnh nhân suy tim có triệu chứng
và trong tình trạng ổn định, trừ khi các thuốc này có chống chỉ định.
Trong một thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên đầu tiên, sử dụng metoprolol tartrate đã không cho thấy cải thiện
sống còn nhưng khi có nhiều thử nghiệm lâm sàng bao gồm hơn 15.000 bệnh nhân thì
cho thấy rằng giảm được 30-40% tỉ lệ tử vong và tỉ lệ bệnh phải nhập viện. Hiệu
quả quan sát được cho thấy ngăn ngừa 3-4 tử vong trong năm đầu tiên cho mỗi 100
bệnh nhân suy tim mức độ nhẹ và vừa được điều trị bằng ức chế bêta.
NHÓM BỆNH NHÂN NÀO CẦN
ĐIỀU TRỊ
Các thử nghiệm ban đầu tập
trung vào các bệnh nhân suy tim vừa và nhẹ (NYHA nhóm II và III) nhưng sau này
ngay cả bệnh nhân thuốc nhóm NYHA IV ( nghiên cứu COPERNICUS ) cũng được đưa vào
thử nghiệm. Thuốc ức chế bêta cũng được xử dụng ở những bệnh nhân không triệu
chứng sau nhồi máu cơ tim, nhưng các hướng dẫn hiện nay không đề cập sử dụng ức
chế bêta cho người rối loạn chức năng thất trái không triệu chứng mà không có
bệnh mạch vành. Chống chỉ định chính là co thắt phế quản và nhịp tim chậm hay
block nhĩ thất. Ức chế bêta do đó không đề nghị ở những bệnh nhân huyết động
không ổn định, ứ dịch rõ rệt, có triệu chứng suy tim sung huyết lúc nghỉ. Những
bệnh nhân đó có triệu chứng nặng thường không đưa vào trong các thử nghiệm nhưng
họ có thể là đối tượng khởi trị ức chế bêta nếu như tình trạng của họ ổn định
bằng thuốc uống cho suy tim không sung huyết. Thuốc ức chế bêta thường có thể
duy trì ở bệnh nhân có triệu chứng ứ dịch sau thời kỳ ổn định trong điều trị ức
chế bêta khi họ không có chứng cứ lưu lượng tim thấp.
THUỐC ỨC CHẾ BETA NÀO
ĐƯỢC XỬ DỤNG TRONG SUY TIM ?
Các thuốc ức chế bêta có tác
dụng ức chế chọn lọc receptor b1 như metoprolol hoặc bisoprolol và các thuốc ức
chế cả receptor b1 và b2 như carvedilol có kèm tác dụng dãn mạch ngoại biên cũng
đều được xử dụng trong suy tim. Carvedilol gây dãn mạch qua tác dụng ức chế
receptor a adrenergic mà nó có lợi ở những bệnh nhân cao huyết áp và co mạch mặc
dù vậy nó thường gây chóng mặt thường hơn các thuốc ức chế bêta khác Thuốc ức
chế bêta thường được kê cho suy tim tại Mỹ là carvedilol và metoprolol succinate
giải phóng kéo dài.
Hiện nay thuốc ức chế bêta có
3 thế hệ khác nhau:
* Thế hệ thứ 1 mà đại diện
là propranolol, thuộc loại không có tác dụng chọn lọc trên
tim. Thuốc ức chế cả thụ thể bêta 1 lẫn bêta 2. Thuốc không có tác dụng trên thụ
thể alpha 1.
* Thế hệ thứ 2 với thuốc tiêu
biểu là metoprolol, có tác dụng chọn lọc trên tim. Thuốc
tác dụng chọn lọc trên bêta 1 nhằm giảm thiểu tác dụng phụ trên mạch máu ngoại
biên và phế quản. Một thuốc ức chế bêta thế hệ 2 thường dùng trong điều trị suy
tim là bisoprolol. Cả 2 thuốc đều không có tác dụng trên thụ thể alpha.
* Thế hệ thứ 3, còn gọi là
thuốc ức chế bêta giãn mạch, với 2 thuốc đại diện
là carvedilol và bucindolol.
Các thuốc này ban đầu được dùng như thuốc hạ áp. Carvedilol không có tác dụng
chọn lọc trên tim, thuốc ức chế cả thụ thể bêta 1 lẫn bêta 2 và đặc biệt nó ức
chế cả thụ thể alpha. Nhờ tính chất giãn mạch, carvedilol
có thể dung nạp tốt với liều thấp trên bệnh nhân suy tim. Bucindolol có tính
giãn mạch ít hơn carvedilol và sự giãn mạch này do tác động trực tiếp của thuốc
lên mạch máu. Giống như carvedilol, bucindolol có thể dung nạp tốt trên bệnh
nhân suy tim.
Trong tháng 12/2008 có 2 bài
báo trên Arch Inter Med cũng đề cập đến beta-blocker:
Trong nghiên cứu thứ nhất, người lớn suy tim điều trị với beta-blocker, nguy cơ tử vong hơi cao hơn ở nhóm metoprolol tartrate so với atenolol hay carvedilol. Tuy nhiên, điều trị với bất cứ beta-blocker nào kết quả sống sót cũng hơn là không điều trị. Cũng cần nhắc ở đây là hiện nay chỉ có 4 beta-blocker được khuyên dùng trong suy tim, và atenolol không có trong danh sách này. Kết quả của một nghiên cứu khác, những beta-blocker có chứng cứ (EBBB: Evidence-Based Beta-Blocker), gồm carvedilol,metoprolol succinate và bisoprolol fumarate, và non-EBBB, như atenolol, propranolol và timolol, cho kết quả sống sót giống nhau trong 1 năm. Tuy nhiên, EBBB liên quan đến tỷ suất nằm bệnh viện cao hơn.
Trong nghiên cứu thứ nhất, người lớn suy tim điều trị với beta-blocker, nguy cơ tử vong hơi cao hơn ở nhóm metoprolol tartrate so với atenolol hay carvedilol. Tuy nhiên, điều trị với bất cứ beta-blocker nào kết quả sống sót cũng hơn là không điều trị. Cũng cần nhắc ở đây là hiện nay chỉ có 4 beta-blocker được khuyên dùng trong suy tim, và atenolol không có trong danh sách này. Kết quả của một nghiên cứu khác, những beta-blocker có chứng cứ (EBBB: Evidence-Based Beta-Blocker), gồm carvedilol,metoprolol succinate và bisoprolol fumarate, và non-EBBB, như atenolol, propranolol và timolol, cho kết quả sống sót giống nhau trong 1 năm. Tuy nhiên, EBBB liên quan đến tỷ suất nằm bệnh viện cao hơn.
Nhóm nghiên cứu của Bác si
Alan S Go từ Kaiser Permanente Bắc California so sánh hiệu quả của nhiều
beta-blocker khác nhau lên tử suất ở 7976 người lớn sống sót sau khi điều trị
tại bệnh viện do suy tim, trong đó 43.2% dùng metoprolol tartrate, 38.5% dùng
atenolol, 11.6% dùng carvedilol và 6.7% điều trị bằng những beta-blocker khác.
Trong 12 tháng theo dõi, tử suất trên 100 người mỗi năm là 17.7 với carvedilol,
20.1 với atenolol, 22.8 với metoprolol tartrate và 37.0 cho người không dùng
beta-blocker. Phân tích đa biến, metoprol tương đối cao hơn atenolol (tỷ số nguy
cơ 1.16) nhưng không khác carvedilol. Trong nghiên cứu thứ hai ở viện nghiên cứu
lâm sàng Duke, North Carolina so sánh hiệu quả của EBBB và non-EBBB ở 11 959
bệnh nhân cao tuổi suy tim., trong đó 23% dùng EBBB và 18% dùng non-EBBB, và 59%
không dùng beta-blocker. Tử suất trong 1 năm ở nhóm EBBB và non-EBBB là 24.2% và
22.8% theo thứ tự, trong khi nhóm không dùng beta-blocker cao hơn đáng kể
(p=0.002). Khác biệt giữa EBBB và non EBBB không đáng kể. Số trung bình nhập
viện trở lại do suy tim tái phát trong 12 tháng cao hơn ở nhóm EBBB so với nhóm
non-EBBB hay nhóm không dùng beta-blockers. Chúng ta không biết người bệnh có
dùng thêm những thuốc nào nữa không, có thêm những bệnh kèm theo nào để xem 2
nghiên cứu này giá trị đến đâu.
Một nghiên cứu khác tên
OPTIMIZE-HF (Organized Program To Initiate Lifesaving treatMent In hospitaliZEd
patients with Heart Failure) đăng trên báo Journal of the American College of
Cardiology số ngày 13/01/09 cho biết: Tuổi trung bình bệnh nhân là 80. Tử suất
trong vòng 1 năm bệnh nhân xuất viện với beta-blocker giảm đáng kể 23% ở những
người rối loạn chức năng tâm thu, nhưng giảm
không đáng kể với bệnh nhân mà chức năng
tâm thu thất trái còn tốt. Tỷ số tái nhập viện ở bệnh nhân dùng beta-blocker
cũng giảm đáng kể ở nhóm trên. Riêng đối với nhóm mà chức năng tâm thu bảo tồn,
dùng beta-blocker vẫn thấy có lợi nếu họ có thêm bệnh đái tháo đường, cao huyết
áp hay những chỉ định khác cho nhóm thuốc này.
Sử dụng thuốc ức chế Bêta lâu
dài làm giãm số lần cần nhập viện vì nguyên nhân tim mạch , vì suy Tim cũng như
nhập viện do mọi nguyên nhân . Thuốc cũng làm giảm thời gian nằm viện . đặt biệt
ở nghiên cứu CIBIS II tỷ lệ bệnh tật giảm vượt trội hẳn so với các thuốc
khác.
Liều thuốc beta blockers khởi
đầu và liều mục tiêu đã được đề nghị như sau: (B.3)
|
Beta Blocker
|
Liều khởi đầu
|
Liều mục tiêu
|
|
Bisoprolol
|
1.25 mg qd
|
10 mg qd
|
|
Carvedilol
|
3.125 mg bid
|
25 mg bid
|
|
Metoprolol
|
12.5 mg qd
|
200 mg qd
|
KẾT LUẬN:
Thuốc ức chế beta hiện nay đã
là hòn đá tảng trong điều trị suy tim. Nó đặc biệt có lợi ở những bệnh nhân suy
tim sau nhồi máu hay có bện lý mạch vành . Đối với bệnh nhân suy tim mà EF giảm
lại càng chứng tỏ nó thật sự hiệu quả Không chỉ các loại thuốc ức chế beta có
chứng cứ mà ngay cả chưa có chứng cứ thì thuốc vẫn có lợi trong việc cải thiện
tử vong chung nên cần được mạnh dạn hơn nữa xử dụng trong suy tim
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1 SWEDBERG K: History of
beta blockers in heart failure. Heart 1998, suppl 2, 79:S29-S30.
2 BRISTOW MR: carvedilol
treatment of chronic heart failure: a new era. Heart (suppl 2), 1998, 79:
S31-S34.
3 Arch Intern Med
2008;168:2415-2428.
4 Lechat P: Effect of beta
blockade on risk of death, hospitalization, and combined risks in chronic heart
failure. Circulation 1998, 98: 1184-1191.
5 Lechat P et al: The
Cardiac Bisoprolol Study Ii (CIBIS II): a randomized trial.Lancet, 1999,
353,9146: 9-13.
6 MERIT HF: Study group:
effect of Metoprolol CR/XL in chronic heart failure. Lancet 1999, 353, 6169:
2001-07.
-----------------------------------Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 12 05, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét