Ngọ Văn Thanh*, Nguyễn
Lân Hiếu**, Nguyễn Văn Mão*, Hà Mai Hương*,
Ngô Chí Hiếu*, Nguyễn Xuân Tuấn*,
Vũ Thục Phương*.
*Bệnh viện Tim Hà Nội
**Viện Tim Mạch Việt Nam
Ngô Chí Hiếu*, Nguyễn Xuân Tuấn*,
Vũ Thục Phương*.
*Bệnh viện Tim Hà Nội
**Viện Tim Mạch Việt Nam
SUMMARY:
Over the past few decades,
significant advances have been made in the diagnosis and management of
congenital heart diseaseses. Improverments in diagnostic and interventional
cardiology, surgical technique, cardiopulmonary bypass and post-operative
intensive care have all contributed to a reduction in mortality and morbidity.
Despite these advances, pulmonary hypertension caused by congenital heart
defects remains a significant problem in the preoperative, operative and
immediate post-operative period, as well as long term. This article reviews the
pathophysiology of pulmonary hypertension due to congenital heart disease and
discusses the options available for the management of this condition.
TÓM TẮT:
Trong nhiều thập niên qua, đã
có nhiều tiến bộ về chẩn đoán và điều trị bệnh lý tim bẩm sinh (BLTBS). Những
tiến bộ trong chẩn đoán, thông tim can thiệp, phẫu thuật, tuần hoàn ngoài cơ thể
và chăm sóc hồi sức sau phẫu thuật đã tạo nên thay đổi lớn, làm giảm tỷ lệ bệnh
và tử vong. Tuy vậy, tăng áp phổi do BLTBS vẫn còn là vấn đề lớn trước, trong,
ngay sau phẫu thuật cũng như theo dõi lâu dài. Bài báo này đề cập
lại sinh lý bệnh của TAĐMP liên quan tới BLTBS ở trẻ em và các phương pháp điều
trị, theo dõi bệnh lý này.
1. Khái
niệm
Tăng áp động mạch phổi (TAĐMP)
được định nghĩa là áp lực động mạch phổi trung bình (PAPm) lớn hơn 25 mmHg sau
giai đoạn sơ sinh (4 tuần đầu sau sinh) [1]. (Bình thường 12 - 16 mmHg [2]). Ở
giai đoạn sơ sinh, áp lực phổi 40/25 mmHg với huyết áp 70/45 mmHg là bình thường
[1]. TAĐMP biểu hiện lâm sàng nghèo nàn chủ yếu là tình trạng bệnh tim nói
chung. Bệnh nhi thường có tình trạng nhiễm trùng phổi tái diễn do tăng dòng máu
lên phổi. TAĐMP gồm nhiều thể, với nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng các triệu
chứng lâm sàng tương tự nhau. Trong nhiều trường hợp, đáp ứng điều trị nội khoa
gần như nhau. Những thay đổi về mô bệnh học diễn ra ở các thành phần khác nhau
của giường mạch phổi (động mạch, mao mạch và tĩnh mạch). Theo thống kê trên thế
giới, có từ 5 -10% bệnh nhân tim bẩm sinh không được can thiệp, phẫu thuật hoặc
được can thiệp, phẫu thuật muộn [3]. Ở Việt nam tỷ lệ này chắc chắn còn cao
hơn.
TAĐMP do bệnh lý tim bẩm sinh
tiến triển thành hội chứng Eisenmenger với đặc điểm: Shunt đảo chiều, tím và suy
tim [4]. Trong số những dị tật tim đơn giản, thông liên thất hay gặp nhất, sau
đó là thông liên nhĩ và còn ống động mạch [3]. Người ta tính rằng 10% bệnh nhân
trên 2 tuổi bị thông liên thất với kích thước lỗ thông khác nhau tiến triển
thành hội chứng Eisenmenger so với 4-6% bệnh nhân thông liên nhĩ [3]. Các bệnh
nhân có thông liên nhĩ kèm bất thường xoang tĩnh mạch có tỷ lệ TAĐMP (16%) cao
hơn hẳn so với thông liên nhĩ lỗ thứ nhất hoặc thứ hai (4%) [3].
2. Phân
loại
Trước đây, TAĐMP đã từng được
phân thành 2 loại: tiên phát và thứ phát tùy thuộc vào có hay không nguyên nhân
hoặc yếu tố nguy cơ [4]. Phân loại Venice hiện nay được ứng dụng rộng rãi trong
lâm sàng [5] (Hội nghị thế giới lần thứ 3 về TAĐMP được tổ chức tại Venice năm
2003 (Ý)).
Phân loại lâm sàng của TAĐMP -
Venice
1) Tăng
áp động mạch phổi
1.1. Vô căn (nguyên phát)
1.2. Có tính gia đình
1.3. Phối hợp với: Bệnh mô
liên kết, bệnh tim bẩm sinh có luồng thông chủ - phổi, tăng áp tĩnh mạch cửa,
nhiễm HIV, thuốc và ngộ độc, các bệnh khác (rối loạn chức năng tuyến giáp, bệnh
tích lũy glycogen, bệnh Gaucher, giãn mao mạch chảy máu di truyền, bệnh huyết
cầu tố, rối loạn sinh tủy, cắt lách).
1.4. Phối hợp với bệnh tĩnh
mạch và mao mạch: Bệnh tắc nghẽn tĩnh mạch phổi. U máu mạch phổi.
1.5. TAĐMP cố định ở trẻ sơ
sinh
2) TAĐMP đi kèm
với bệnh tim bên trái: Bệnh của tâm nhĩ hoặc tâm thất
trái. Bệnh van tim bên trái
3) TAĐMP đi kèm
với bệnh động mạch phổi và/hoặc giảm oxy máu: Bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh phổi kẽ, rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ,
giảm thông khí phế nang, sống trên vùng cao, bất thường phát triển tâm thần.
4) TAĐMP do tắc
mạch phổi mạn tính: Huyết khối gây tắc động mạch phổi
đoạn gần, huyết khối gây tắc động mạch phổi đoạn xa và tắc động mạch phổi không
do huyết khối (U, kí sinh trùng, thai lạc chỗ).
5) Bệnh lý
khác: Bệnh sarcoidose, bệnh mô bào X, u bạch huyết,
chèn ép mạch phổi (bệnh lý hạch, khối u, viêm trung thất xơ hóa).
3. Sinh lý bệnh và
giải phẫu bệnh
Tiến trình khởi đầu của những
thay đổi bệnh học trong TAĐMP nói chung vẫn chưa được biết chính xác, dù đã có
những hiểu biết rõ ràng hơn về các cơ chế liên quan. Người ta nhận thấy rằng
TAĐMP có cơ chế bệnh học phức tạp liên quan đến nhiều cơ chế sinh hóa và tế bào
khác nhau. Sức cản mạch phổi tăng do co mạch, tái cấu trúc tắc nghẽn của thành
mạch phổi, nhiễm trùng, huyết khối [1], [3]. Bằng chứng về hiện tượng phì đại
đồng tâm ở những động mạch phổi nhỏ cùng với sự giảm sức cản mạch phổi khi dùng
các thuốc giãn mạch đã đưa Paul Wood đến giả thuyết co mạch từ nhiều năm trước
đây như là một nền tảng cho những hiểu biết về bệnh nguyên và bệnh sinh của
TAĐMP tiên phát [1] . Ngoài ra, quá trình viêm và đông máu với các tế bào viêm
và tiểu cầu có thể đóng vai trò quan trọng trong tăng áp phổi. Cytokines tiền
viêm cũng tăng trong huyết tương của bệnh nhân TAĐMP [5]. Sự thay đổi chuyển hóa
serotonin, một chất gây co mạch phổi có trong tiểu cầu cũng được phát hiện ở
bệnh nhân TAĐMP. Bất thường tiền huyết khối cũng được phát hiện ở bệnh nhân
TAĐMP. Có sự xác nhận đột biến gen BMPR2 trong phần lớn các trường hợp TAĐMP có
tính gia đình, tuy nhiên sinh bệnh học liên quan giữa bất thường gen này với
TAĐMP cũng không rõ ràng [1], [5].
Sự thay đổi giải phẫu sinh lý
bệnh tại hệ thống mạch phổi trong bệnh tim bẩm sinh được miêu tả và phân loại
bởi Heath và Edwards năm 1958 [1]. Trong đó nói đến các bệnh lý như: thông liên
thất lớn, đa ổ; ống động mạch lớn; kênh nhĩ thất toàn phần đặc biệt bệnh nhân có
3 nhiễm sắc thể 21; thân chung động mạch; chuyển vị đại động mạch và tim một
buồng thất không hẹp phổi. Phẫu thuật sửa chữa dị tật tim ở bệnh nhân đã có tình
trạng thiếu oxy máu, tăng sức cản phổi nhiều thường không cải thiện tình trạng
áp lực động mạch phổi đồng thời tăng nguy cơ và tăng tỷ lệ tử vong sau phẫu
thuật.
Phân loại các biến
đổi cấu trúc động mạch phổi trong TAĐMP (Heath và
Edwards 1958)
Độ I: Phì đại lớp giữa của
động mạch (có thể hồi phục).
Độ II: Tăng sinh lớp nội mạc
(có thể hồi phục).
Độ III: Xơ hoá(fibrin hoá) lớp
nội mạc (có thể hồi phục).
Độ IV: Giãn động mạch phổi
(không hồi phục).
Độ V: Hình thành huyết khối
(không hồi phục).
Độ VI: Hoại tử lớp nội mạc
và lớp trung mạc (không hồi phục).
Có 4 điểm cơ bản ảnh hưởng tới
áp lực động mạch phổi trong BLTBS.
1. Tăng sức cản phổi
(PVR).
2. Tăng dòng máu lên phổi với
sức cản phổi bình thường.
3. Sự kết hợp của tăng sức cản
phổi và tăng dòng máu lên phổi.
4. Tăng áp lực tĩnh mạch
phổi.
Ảnh hưởng của tăng sức
cản phổi: Tăng sức cản phổi biểu hiện trên lâm sàng qua
tăng hoạt động của thất phải dẫn tới giảm chức năng và suy thất phải. Bệnh tim
bẩm sinh có luồng thông chủ phổi như thông liên thất, thông liên nhĩ tăng sức
cản phổi có thể gây đảo chiều luồng thông dẫn đến thiếu oxy tổ chức biểu hiện
lâm sàng là tím tiến triển tăng dần.
Cơn cao áp phổi (pulmonary
hypertension crisis) là cơn tăng đột ngột sức cản phổi gây suy thất phải cấp
[6]. Đây là tình trạng nguy cấp tiến triển, giống như ngưng tim, đe doạ tính
mạng bệnh nhân. Phẫu thuật tim có tuần hoàn ngoài cơ thể, yếu tố đặc biệt làm
tăng sức cản phổi bao gồm: các vi tắc mạch phổi do khí, xẹp phổi, suy giảm chức
năng nội mô, co mạch phổi, và các tác nhân dạng Adrenergic. Ngoài ra các yếu tố
như: phù nề sau tuần hoàn ngoài cơ thể, toan hô hấp hoặc chuyển hoá; tăng áp lực
trong lồng ngực (do thở máy, tràn khí màng phổi); giảm thể tích phổi như xẹp
phổi, tràn dịch màng phổi và các yếu tố nhiễu như catheter không đúng vị trí,
chuẩn độ sai [1], [3]. Bệnh nhân có nguy cơ xuất hiện cơn tăng áp phổi sau phẫu
thuật tim khi đã có tình trạng suy thất phải do TAĐMP trước đó [1].
Ảnh hưởng của tăng
dòng máu lên phổi: Trẻ sơ sinh trong vòng 24 - 48 giờ đầu
sau sinh sức cản phổi thường không ổn định. Tương ứng với sự thay đổi của tuần
hoàn thai nhi trong tử cung (sức cản phổi cao) ra ngoài tử cung (sức cản phổi
thấp). Sau 3 - 4 tuần, trương lực của tế bào cơ trơn mạch máu thấp và sức cản
phổi chỉ bằng 20% sức cản hệ thống [1]. Sức cản phổi hạ thấp do sự sửa đổi của
hệ mạch máu và giảm cấu trúc cơ trơn thành mao mạch phổi. Bệnh tim có luồng
thông trái phải mà không hẹp phổi tăng tỷ lệ dòng máu lên phổi (Qp>Qs) và có
áp lực phổi gần áp lực hệ thống với sức cản phổi bình thường. Dòng máu lên phổi
bị ảnh hưởng bởi giải phẫu các mạch máu (đường kính, số lượng, chiều dài) và độ
nhớt của máu. Đường kính mạch máu phổi được quyết định bởi khối lượng và trương
lực của tế bào cơ trơn trong thành mạch. Bệnh tim tăng lượng máu lên phổi cơ thể
tự điều chỉnh bằng cách tăng sức cản phổi để giảm lượng máu lên phổi. Cuối cùng
các biến đổi này lại gây một tình trạng mới cản trở máu lên phổi mà hội chứng
eisenmenger là giai đoạn muộn của tiến trình này. Kích thước luồng thông, dòng
máu lên phổi là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tiến trình TAĐMP
trong bệnh lý tim bẩm sinh ở trẻ. Ví dụ với thông liên thất từ nhỏ tới trung
bình chỉ có 3% bệnh nhân phát triển thành TAĐMP. Thông liên thất lỗ lớn đường
kính >1,5cm có tới 50% chuyển thành tăng áp phổi [1]. Điều này có nghĩa là
dòng máu lên phổi nhiều trong thời gian dài đã ảnh hưởng đến nội mạc và hệ mao
mạch phổi. Kích thước luồng thông có vai trò quan trọng, 50% bệnh nhân thông
liên thất lớn, và hầu hết bệnh thân chung động mạch, 10% bệnh thông liên nhĩ sẽ
phát triển thành hội chứng Eisenmenger. Bệnh nhân thông liên nhĩ có tỷ lệ TAĐMP
không đồng nhất. thông liên nhĩ thể xoang (26%) so với thông liên nhĩ lỗ thứ
phát (9%) và thời gian xuất hiện sớm hơn ở thể xoang và muộn hơn ở lỗ thứ phát
[1], [3].
Ảnh hưởng của tăng sức
cản và tăng dòng máu lên phổi: Tăng lượng máu làm tăng sức
cản do đáp ứng bảo
vệ của cơ thể, quy trình này tạo vòng xoắn bệnh lý nếu không can thiệp cắt vòng
xoắn này sẽ gây tình trạng bệnh lý không thể hồi phục được (áp lực cao, dòng máu
lên phổi giảm với sức cản phổi lớn). Trường hợp bệnh lý mạch phổi tắc nghẽn nặng
có thể gây luồng thông phải trái (shunt đảo chiều) và giảm oxy máu (hội chứng
Eisenmenger). Can thiệp làm giảm sức cản phổi có thể cải thiện triệu chứng bệnh
[1].
Ảnh hưởng của tình
trạng tăng áp tĩnh mạch phổi: TAĐMP có nguyên nhân cơ học
ở trẻ sơ sinh do tắc nghẽn tĩnh mạch phổi như bất thường tắc nghẽn tĩnh mạch
phổi toàn phần, teo van nhĩ thất với vách liên nhĩ kín làm cản trở máu về tim
trái gây tăng áp phổi (VD teo van 2 lá, tim 1 buồng thất vách liên nhĩ kín phải
giảm khẩn cấp áp lực tĩnh mạch phổi bằng phá vách liên nhĩ để cứu sống bệnh
nhân).Trẻ lớn TAĐMP do bệnh lý tim trái như hẹp 2 lá thường có xu hướng TAĐMP
với biểu hiện tắc nghẽn. Cơ chế tăng áp phổi do tắc nghẽn cơ học đối nghịch với
tăng dòng máu lên phổi. Bệnh lý tắc nghẽn mạch phổi hiếm khi phát triển từ tăng
áp tĩnh mạch phổi [1].
Vai trò của nội
mạc: Nội mạc là trung tâm của sự phát triển và thay đổi
trong TAĐMP. Bệnh nhân TAĐMP, bề mặt nội mạc mạch máu phổi xuất hiện các sợi
(cable-like) với các tế bào xù xì, xoắn vặn. Nội mạc phát triển từng phần xen kẽ
vùng tăng sinh với vùng thiểu sản xoắn vặn méo mó. Rối loạn chức năng nội mạc
kích thích sản xuất các chất gây giãn mạch kéo dài như NO (nitric oxide),
prostacyclin và tăng thái quá của các chất gây co mạch như thromboxane A2 (TxA2)
và Endothelin-1 (ET-1). Các bất thường này làm tăng trương lực thành mạch và đẩy
mạnh quá trình tái cấu trúc các lớp thành mạch gây quá sản và tắc nghẽn. Các
chất gồm collagen, elastin, fibrin, và tenascin. Angiopoietin-1 tăng tổng hợp
khi mạch máu vỡ. Tenasin có khả năng kích thích tế bào cơ trơn tăng nhanh về số
lượng và là yếu tố cần thiết cho tăng trưởng nội mạc trung gian. Đây là chất cần
thiết cho sự phát triển mạch phổi và cũng đã được chứng minh là tăng hơn trong
các trường hợp TAMP [1], [3], [5], [9]. Sự lan truyền các vi điện thế của bề mặt
nội mô liên quan tới sự biến đổi sợi elastin, do kích thích enzyme tiêu sợi làm
thay đổi cấu trúc ngoại bào và kích thích quá trình sửa đổi. Nội mạc mất chức
năng không còn khả năng ngăn cản các yếu tố kích thích xâm nhập. Fibronectin làm
tế bào cơ trơn di trú kết hợp với dạng nội mạc mới làm thay đổi hình thù tế bào.
Yếu tố tăng trưởng nội mô kích thích tế bào cơ trơn thành mạch tăng sợi hoá nội
mạc mạch, giải phóng các chất trung gian hoá học kích thích phân chia của tế bào
thông qua giảm khuôn proteoglycan. Yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (fibro) và
tăng trưởng biệt hoá được giải phóng từ kho dự trữ proteoglycan do men
proteolytic giống như men phân huỷ sợi chun (elastase). Tăng lưu lượng và áp lực
liên tục trong BLTBS có luồng thông trái phải trực tiếp thúc đẩy tổng hợp sợi
elastin và collagen ngoài khuôn tế bào. Tất cả các yếu tố này ràng buộc lẫn nhau
kết quả là tế bào cơ trơn phì đại, tăng nhanh về số lượng và kích thích các tổ
chức tăng cường tổng hợp protein. [1], [3], [5], [9].
Sự co mạch bất
thường: Yếu tố điều tiết sức căng thành động mạch phổi là
NO bằng cách ức chế monophosphat vòng (GMP). NO là chất ức chế tiểu cầu và ức
chế hoạt hoá bạch cầu nội sinh. Bệnh nhân tăng áp phổi tăng nồng độ GMP vòng
trong nước tiểu, liên quan nghịch đảo với chỉ số tim và độ bảo hoà oxy máu tĩnh
mạch trộn. Điều này gợi ý rằng tăng bài tiết NO là phản ứng làm tăng trương lực
thành mạch nhằm phản ứng với tình trạng tăng máu lên phổi. Một vài nghiên cứu
cũng thấy tăng đào thải NO qua khí thở ra ở bệnh nhân TAĐMP tuy nhiên vẫn còn
tranh cãi [1], [3]. Sự co mạch thái quá cũng liên quan tới bất
thường chức năng và hoạt động của kênh canxi trong các tế bào cơ trơn và gây rối
loạn chức năng nội mạc. Điều thú vị là bệnh nhân sau sửa chữa dị tật tim có giảm
yếu tố kích thích phì đại nội mạc và giảm phì đại lớp tế bào này [1], [4].
4. Theo dõi và xử trí
tăng áp phổi do bệnh lý tim bẩm sinh
Những thập niên trước đã có
nhiều hiểu biết về sinh lý bệnh và điều trị tăng áp phổi. Tuy nhiên, đa số các
thuốc điều trị được nghiên cứu trên bệnh nhân tăng áp phổi tiên phát. Bệnh tim
bẩm sinh tăng áp phổi hoặc có nguy cơ tăng áp phổi cần được chẩn đoán mức độ suy
chức năng tim phổi, tình trạng sức cản phổi, mức độ đáp ứng với các phương pháp
điều trị và phòng bệnh.
4.1. Phẫu thuật và điều trị
hậu phẫu
4.1.1. Phẫu thuật sửa chữa
hoặc thông tim can thiệp
Cần chỉ
định phẫu thuật hoặc thông tim can thiệp cho bệnh nhân tim bẩm sinh trước khi có
tình trạng tăng áp phổi nặng, shunt đảo chiều hay hội chứng Eisenmenger. Hiện
nay, các trung tâm tim mạch lớn của Việt nam đã có thể can thiệp, hoặc phẫu
thuật sửa chữa được nhiều BLTBS gây tăng áp phổi. Tuy nhiên, có khoảng 2% các
bệnh nhân có thể tử vong sau phẫu thuật do cơn tăng áp phổi [8].
Phá (nong) vách liên nhĩ, lỗ
thông liên nhĩ tạo shunt phải trái giúp tăng cung lượng tim và tăng vận chuyển
oxy trong hệ thống dù thủ thuật này làm giảm bão hoà oxy máu động mạch. Luồng
thông ở tâm nhĩ làm giảm áp lực nhĩ phải và thất phải, từ đó làm giảm triệu
chứng của suy tim phải. Chỉ định cấp cứu cho BLTBS tăng áp phổi do tắc nghẽn cơ
học ví dụ như teo van nhĩ thất có vách liên nhĩ kín. Ngoài ra còn áp dụng thủ
thuật này cho bệnh nhân TAĐMP nặng không đáp ứng với điều trị nội khoa, hoặc là
biện pháp bắc cầu để chuẩn bị cho phẫu thuật ghép tim phổi. Phẫu thuật banding
động mạch phổi được chỉ định cho bệnh nhân khi chưa đủ điều kiện sửa chữa toàn
bộ dị tật tim. Phẫu thuật này nhằm bảo vệ phổi bằng cách hạn chế dòng máu lên
phổi. Tuy là phẫu thuật tim kín nhưng chăm sóc hậu phẫu khá nặng nề.
4.1.2. Ghép phổi hoặc ghép tim
phổi
Phẫu thuật ghép phổi
hoặc ghép tim phổi có chỉ định cho bệnh nhân TAĐMP nặng, không đáp ứng với các
điều trị khác. Tỷ lệ sống sót sau 3 năm và 5 năm sau ghép phổi và ghép tim phổi
là khoảng 55% và 45% [5]. Ghép phổi một bên hoặc hai bên đã được tiến hành cho
TAĐMP tiên phát, và có thể kèm với sửa chữa dị tật tim bẩm sinh trong hội chứng
Eisenmenger. Tỷ lệ sống sót tương tự nhau sau ghép 1 bên và 2 bên, và kỹ thuật
ghép có thể chấp nhận ở hầu hết các trường hợp TAĐMP. Vấn đề lớn sau ghép chính
là điều trị chống thải loại tổ chức ghép. Những bệnh nhân có hội chứng
Eisenmenger và những bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối, lựa chọn ghép tim phổi
cần được cân nhắc kỹ lưỡng.
Phẫu thuật bệnh tim bẩm sinh
có TAĐMP nặng nói chung cần tránh tăng sức cản phổi đột ngột, do có thể gây suy
thất phải cấp, suy tim toàn bộ và tử vong. Ở các trung tâm phẫu thuật tim trên
thế giới thuốc đầu tay để hạ áp lực phổi cấp là NO, sau đến Sildenafil khi bệnh
nhân bắt đầu hấp thu được qua đường tiêu hoá. ECMO (extracorporeal membrane
oxygenation) cũng được chỉ định trong trường hợp suy tim cấp do tăng áp phổi.
Ngoài ra, các thuốc như Ilomedine truyền tĩnh mạch, Iloprost khí dung cũng rất
hiệu quả. Với điều kiện Việt nam, rất khó triển khai sử dụng NO, do vậy
Ilomedine, Iloprost và Sildenafil vẫn là những thuốc chính dùng trong đơn vị hồi
sức phẫu thuật tim. Tuy nhiên, điều trị không đặc hiệu cũng có vai trò rất lớn
bao gồm giảm đau tốt, an thần đủ, thở máy thích hợp, đảm bảo oxy, kiềm hoá máu.
Morphin, fentanyl và medazolam, benzodiazepam hay được sử dụng để an thần và
giảm đau. Tránh tăng sức cản phổi do các nguyên nhân khác như viêm phổi, tổn
thương phổi cấp (ARDS), xẹp phổi, tràn dịch, tràn khí màng phổi.
4.2. Điều trị nội khoa
4.2.1. Thuốc không đặc
hiệu
Các thuốc chống đông đường
uống: Bệnh nhân TAĐMP cần điều trị chống đông vì cơ chế bệnh
sinh có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch như suy tim, có các yếu tố kích phát hình
thành huyết khối và có những thay đổi đông máu trong các vi mạch và động mạch
phổi. Cần phải cân nhắc kỹ giữa lợi ích và nguy cơ [5].
Thuốc lợi
tiểu: Điều trị lợi tiểu trong trường hợp suy
tim phải cải thiện triệu chứng lâm sàng. Trong các nghiên cứu lâm sàng ngẫu
nhiên có kiểm chứng về các mục tiêu điều trị mới, 49% đến 70% bệnh nhân được
điều trị bằng thuốc lợi tiểu. Tuy nhiên, do còn thiếu các thử nghiệm về các nhóm
thuốc lợi tiểu cụ thể dùng cho TAĐMP, cũng như sự đáp ứng khác
nhau của từng cá thể nên việc lựa chọn loại thuốc và liều dùng với từng trường
hợp cụ thể tùy vào kinh nghiệm của bác sỹ [5].
Oxygen: Bệnh
nhân TAĐMP do bệnh tim bẩm sinh, giảm oxy máu liên quan đến sự đảo chiều của
luồng thông trái phải. Hiện tại không có bằng chứng chắc chắn nào về tác dụng
của điều trị oxy kéo dài đối với TAĐMP. Tuy nhiên, nhìn chung nên duy trì mức
SaO2 bằng hoặc > 90% ở mọi thời điểm [5].
Digitalis và
Dobutamine: Giảm co bóp cơ tim là sự khởi đầu
của quá trình suy tim. Các thuốc tăng co bóp cơ tim được cân nhắc
sử dụng. Dùng ngắn hạn digoxin tĩnh mạch cho bệnh nhân TAĐMP tiên phát làm tăng
vừa phải cung lượng tim và làm giảm đáng kể lượng norepinephrine trong máu [5].
Hầu hết các trung tâm chuyên khoa tim mạch điều trị bệnh nhân TAĐMP giai đoạn
cuối bằng dobutamine truyền tĩnh mạch [5]. Giống như trong suy tim trái tiến
triển, Dobutamin cải thiện triệu chứng lâm sàng đáng kể.
Thuốc chẹn kênh
canxi: Lợi ích của test giãn mạch phổi và
điều trị lâu dài bằng thuốc chẹn canxi trên bệnh nhân TAĐMP phối hợp bệnh của mô
liên kết hoặc bệnh tim bẩm sinh không rõ ràng như ở bệnh nhân TAĐMP tiên phát
[1], [5]. Những kết quả khả quan khi sử dụng lâu dài các thuốc chẹn canxi liều
cao cũng được ghi nhận ở trẻ em có TAĐMP tiên phát [10].
Các thuốc dãn mạch
khác: Phentolamin, nitroprusside, nitroglycerin...có tác dụng dãn mạch,
trong đó có mạch phổi. Thuốc không chọn lọc do vậy thường gây tụt huyết áp.
4.2.2. Thuốc dãn mạch phổi
chọn lọc và đặc hiệu
Nitric Oxide
(NO): NO có thời gian bán huỷ cực ngắn, chỉ
tác dụng trên bề mặt nội mạc không kịp tác động lên mạch hệ thống, được chuyển
hoá bởi hemoglobin. NO làm giảm áp lực động mạch phổi rất tốt do vậy được lựa
chọn để phòng và điều trị cơn tăng áp phổi sau phẫu thuật. Tuy nhiên chi phí để
sử dụng rất cao theo tính toán của DeWet, giá thành điều trị bằng NO trung bình
là 3000USD/ngày [7]. Tác dụng phụ thường gặp của NO là tình trạng ngộ độc (theo
dõi bằng xét nghiệm methemoglobin) và sự tăng áp lực phổi cấp hồi ứng do ngừng
đột ngột NO (rebound) [1], [5], [10].
Prostacyclin tổng
hợp và các chất tương tự Prostacyclin: Prostacyclin
được sản xuất chủ yếu bởi tế bào nội mạch, có tác dụng giãn mạch, chống ngưng
tập tiểu cầu nội sinh mạnh nhất, đồng thời có tác dụng bảo vệ tế bào và chống
lại sự quá sản [5]. Chuyển hoá Prostacyclin không đúng quy tắc được tìm thấy ở
bệnh nhân TAĐMP. Bằng chứng là sự giảm nồng độ Prostacyclin synthetase ở động
mạch phổi và giảm nồng độ sản phẩm chuyển hoá prostacyclin trong nước tiểu [5].
Đến nay người ta vẫn chưa xác định được chuyển hoá prostacyclin bất quy tắc là
nguyên nhân hay hậu quả của TAĐMP. Prostacyclin được sử dụng phổ biến nhờ tổng
hợp được các chất có dược lực khác nhau nhưng có dược động học tương tự
nhau.
Epoprostenol: là
hợp chất ổn định, dạng khô đông lạnh, hoà tan trong dung dịch đệm kiềm tính
(glycine). Thời gian bán thải trong hệ tuần hoàn ngắn 3-5phút, nhanh chóng
chuyển thành sản phẩm giáng hoá, ổn định ở nhiệt độ phòng trong 8 tiếng. Khởi
đầu điều trị với liều 2 - 4 ng/kg/phút, sau 2 - 4 tuần đầu tiên cần đạt liều 10
- 15 ng/kg/phút. Liều tối ưu thường trong khoảng 20 - 40 ng/kg/phút. Tác dụng
phụ thường gặp là bừng mặt, đau hàm, tiêu chảy, đau đầu, đau lưng, đau chân và
bàn chân, đau quặn bụng, buồn nôn và hiếm gặp là tụt huyết áp. Một số trường hợp
có thể gặp cổ chướng do epoprostenol làm tăng tính thấm của phúc mạc. Nhiễm
trùng catheter, rối loạn chức năng co bóp cơ tim có thể xảy ra. Tránh ngừng đột
ngột epoprostenol vì có thể gây hiện tượng hồi ứng làm nặng thêm TAĐMP, thậm chí
gây tử vong [5], [10].
Treprostinil: Treprostinil
là một dẫn xuất của epoprostenol loại benzidene ba vòng. Tính chất hoá
học ổn định, thích hợp cho việc sử dụng ở nhiệt độ môi trường và
trong một dung dịch sinh lý. Những đặc điểm này cho phép sử dụng thuốc bằng
đường tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Năm 2002, FDA đã công nhận việc sử dụng
treprostinil ở những bệnh nhân TAĐMP có NYHA II, III và IV [5].
Sodium
beraprost: là dẫn xuất prostacyclin đầu tiên có tính chất hoá
học ổn định và hiệu quả qua đường uống. Thuốc hấp thu nhanh chóng nếu uống lúc
đói, nồng độ đỉnh đạt sau 30 phút và thời gian bán huỷ là 35 - 40 phút.
Beraprost được dùng tại Nhật và Hàn quốc cho TAĐMP tiên phát, nhưng không được
công nhận ở Mỹ và châu Âu [5].
Iloprost dạng
hít: là một dẫn chất của Prostacyclin có tính chất hoá học ổn
định (biệt dược Ventavis 20µg). Dùng Iloprost dạng hít gây được sự chú ý do có
những lợi điểm về lý thuyết thích hợp với tuần hoàn phổi. Điều quan trọng là
chúng phải có kích thước đủ nhỏ (3 - 5 micromet) để có thể vào được trong phế
nang. Sau khi hít Iloprost, người ta quan sát thấy áp lực động mạch phổi trung
bình giảm 10% đến 20%, kéo dài khoảng 45 - 60 phút [1], [5]. Do tác dụng ngắn
nên cần phải hít liên tục (6 - 12 lần/ngày) để đạt hiệu quả điều trị ổn định.
Tác dụng phụ hay gặp là ho, bừng mặt, đau đầu.
Iloprost tĩnh
mạch: Dùng Iloprost đường tĩnh mạch liên tục tỏ ra có hiệu quả
ngang với epoprostenol trên một nhóm những bệnh nhân TAĐMP và thuyên tắc phổi
mạn tính [5]. Ưu điểm của Iloprost là ổn định ở nhiệt độ phòng mà không cần bảo
quản lạnh (biệt dược Ilomedine 20µg).
Chất đối kháng
receptor của Endothelin-1 (ET-1): Các chất đối kháng
ET-1 được dùng có tác dụng chẹn được receptor ETA và
ETB. ET-1 là một peptide được sản xuất
chủ yếu bởi tế bào nội mạc mạch máu, gây co mạch mạnh và là chất gây gián phân ở
các tế bào cơ trơn [4]. ET-1 gắn với 2 loại receptor: ETA và ETB. (ETA
receptor có ở tế bào cơ trơn, ETB receptor có cả ở tế bào nội mạch và tế bào cơ
trơn). Hoạt hoá ETA và ETB receptor của tế bào cơ trơn gây co mạch và gây gián
phân. Kích thích ETB receptor ở tế bào nội mạc làm mất ET-1 và phóng thích NO và
prostacyclin. Sự hoạt hoá hệ thống ET-1 thấy cả trong máu và trong mô phổi ở
những bệnh nhân TAĐMP [1]. Những nghiên cứu về các mô ET hệ thống khẳng định vai
trò lớn của ET-1 trong bệnh sinh của TAĐMP [5]. Bằng chứng sự hoạt hoá hệ thống
ET trong TAĐMP là cơ sở để tiến hành nghiên cứu các chất đối kháng ET-1 ở bệnh
nhân TAĐMP.
Bosetan: Bosetan
là chất đối kháng cả 2 receptor ETA và ETB, hiệu quả bằng đường uống và là chất
tổng hợp đầu tiên của nhóm thuốc này [5]. Liều bosetan được khuyến cáo là
125mg/ngày. Tác dụng phụ bao gồm thiếu máu nhẹ, tăng men gan, ứ dịch và phù
chân. Bosentan có thể gây quái thai ở bệnh nhân nữ, làm giảm hiệu quả các biện
pháp tránh thai bằng hormone. Chất đối kháng thụ thể endothelin có thể gây phì
đại tinh hoàn và ảnh hưởng khả năng sinh sản của nam giới [1], [5], [10].
Sitaxsentan: là
một chất đối kháng chọn lọc receptor ETA hiệu quả đường uống, được đánh giá
trong thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên ở 178 bệnh nhân TAĐMP có NYHA II, III và IV
[5]. Bệnh nguyên bao gồm TAĐMP tiên phát và TAĐMP đi kèm bệnh xơ cứng bì hoặc
bệnh tim bẩm sinh, phân ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1:1:1 vào nhóm dùng placebo, nhóm
dùng sitaxsentan 100mg và nhóm dùng sitaxsentan 300mg đường uống ngày 1 lần
trong vòng 12 tuần. Kết quả cho thấy có cải thiện khả năng gắng sức, tình trạng
huyết động và triệu chứng lâm sàng [5] (thuốc mới chỉ ở dạng thử nghiệm).
Ambrisentan: Ambrisentan
là một chất đối kháng chọn lọc receptor ETA hiệu quả đường uống. Thuốc đang còn
trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm.
Chất ức chế
phosphodiesterase type 5: Sildenafil (biệt dược
Viagra, Adagril) là một chất ức chế chọn lọc cGMP-phosphodiesterase type 5
(PDE-5) dạng uống. Thuốc có tác dụng dược lý thông qua việc làm tăng nồng độ GMP
vòng trong tế bào, làm giãn và chống tăng sinh tế bào cơ trơn mạch máu. PDE-5 có
mặt rất nhiều trong tuần hoàn phổi, và dấu ấn hoạt động của gene PDE-5 tăng lên
trong TAĐMP mạn tính [1], [5], [10]. Sildenafil được phát hiện năm 1998 và được
cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận dùng điều trị chứng
rối loạn cương dương. Các nghiên cứu đầu những năm 2000 đã chứng minh thuốc có
tác dụng dãn mạch phổi mạnh và chọn lọc tương đương NO [7].
Liệu pháp di
truyền: Chiến lược điều trị gen di truyền đang
được thử nghiệm mặc dù Adenovirus và Retrovirut chỉ điểm cho kỹ
thuật phát triển gen có hạn chế là gây viêm cho cơ quan đích. Các nghiên cứu
đang được thực hiện và phát triển nhằm tránh các yếu tố có hại trên tế bào gốc
[1].
Tóm lại
Những tiến bộ trong hiểu biết
sâu về sinh lý bệnh TAĐMP và các tiến bộ mới trong dược lý điều trị đã đem đến
hy vọng cho bệnh nhân tăng áp phổi do tim bẩm sinh các giai đoạn. Quá trình điều
trị có thể là giảm áp lực phổi, ngăn chặn quá trình tổn thương mạch máu bằng
thuốc, các phương pháp can thiệp ngoại khoa và thông tim. Mặc dù can thiệp, phẫu
thuật và giai đoạn hồi sức có tỷ lệ biến chứng và tử vong nhất định. Với đa số
bệnh lý tim mạch bẩm sinh TAĐMP hoặc có nguy cơ gây TAĐMP, chỉ định điều trị
phẫu thuật hoặc can thiệp bằng thông tim sớm là yếu tố quyết định sự sống còn và
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Tài liệu tham
khảo
1. Raja SG, Basu D (2005).
"Pulmonary hypertension in congenital heart disease". art and science Vol 19 no
50.
2. Schannwell C. M,
Steiner S, Strauer B. E (2007). "Diagnostics in pulmonary hypertension". Journal
of physiology and pharmacology, 58, Suppl 5, 591-602.
3. Konstantinos
Dimopoulos, Ana Peset, Michael A. Gatzoulis (2008). "Evaluating operability in
adults with congenital heart disease and the role of pretreatment with targeted
pulmonary arterial hypertension therapy". International journal of cardiology
129; pp 163-71.
4. Nguyễn Lân Việt. "Hội
chứng eisenmenger". Thực hành bệnh tim mạch. NXB y học tr 605-21.
5. Nguyễn Lân Việt, Phạm
Gia Khải, Đặng Vạn Phước, Phạm Nguyễn Vinh, Đỗ doãn Lợi, Trương Thanh Hương, Đỗ
Quang Huân, Hồ Huỳnh Quang Trí, Nguyễn Lân Hiếu, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Mạnh
Hùng (2008). "Tăng áp lực động mạch phổi". Khuyến cáo 2008 của hội Tim Mạch học
Việt nam về chẩn đoán và điều trị. NXB Y học chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh. tr
103 - 46.
6. Ko Bando, Mark W.
Turrentine, Thomas G. Sharp, Yasuo Sekine et al (1996). "Pulmonary hypertension
after operations for congenital heart disease: Analysis of risk factors and
management". The journal of Thoracic and Cardiovascular surgery December 1996.
volume 112, No 6, pp 1600-07.
7. Hồ Huỳnh Quang Trí,
Nguyễn Tiến Hào, Nguyễn Minh Trí Viên, Phạm Nguyễn Vinh. "Điều trị tăng áp động
mạch phổi sau mổ tim bằng khí dung Iloprost phối hợp Sildenafil: Nhân 2 trường
hợp". Thời sự tim mạch học, số 100. tr 26-28.
8. Lindberg L, Olsson A.K,
Jogi P, Jonmarker C (2002). "How common is severe pulmonary hypertension after
pediatric cardiac surgery". The journal of thoracic and cardiovascular surgery;
volume 123, number 6: pp 1155-63.
9. Robert J. Sommer, Ziyad
M.Hijazi, John F. Rhoders (2008). "Pathophysiology of congenital heart disease
in adult Part I: shunt lesions". Circulation; 117: 1090-99.
10. Amy Hawkins, Robert Tulloh (2009). "Treatment of
pediatric pulmonary hypertension". Valvular health and risk management; 5; pp
509-24.
theo timmachhoc.vn
-----------------------------------theo timmachhoc.vn
Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 12 02, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét