1. Lâm
sàng.
1.1. Hội chứng cột
sống cổ.
- Đau cổ gáy: có 3 kiểu biểu
hiện:
+ Đau cổ gáy cấp tính: Hay vẹo
cổ cấp, xuất hiện sau một đêm ngủ dậy do gối đầu lệch hoặc sau lao động
nặng, mệt
mỏi, căng thẳng, lạnh... thấy đau vùng gáy một bên lan lên cùng chẩm.
Thường khỏi sau vài ngày và hay tái phát.
+ Đau vùng gáy mạn tính: Đau
âm ỉ khi tăng khi giảm, lan ít, khó vận động một số động tác vì đau, đôi khi
thấy lạo xạo khi quay cổ.
+ Có điểm đau cột sống cổ: ấn
vào các gai sau và cạnh cột sống cổ tương ứng các rễ thần kinh có thể tìm thấy
điểm đau.
- Hạn chế vận động cột sống
cổ: đau làm đầu vẹo sang một bên không quay về bên kia được do cơ bên đau bị co
cứng phản xạ.
1.2. Hội chứng rễ
thần kinh.
- Do thoái hóa hoặc thoát vị
đĩa đệm chèn ép các rễ thần kinh thuộc đám rối thần kinh cánh tay, chủ yếu là rễ
C5-C6. Đau vùng gáy âm ỉ tăng từng cơn nhất là về đêm, lan lên vùng chẩm và
xuống vai và cánh tay. Biểu hiện lâm sàng là hội chứng vai-gáy, hoặc hội chứng
vai-cánh tay.Thường đau sâu trong cơ, xương với cảm giác nhức nhối khó chịu, có
khi đau nhói như điện giật. Đau cổ thường giảm nhanh trong khi đau vai và tay
thì ngày một tăng. Đau có tính chất cơ học, đau tăng khi đứng, đi, ngồi lâu, khi
ho, hắt hơi, khi vận động cột sống cổ; đau giảm khi nghỉ ngơi, khi kéo giãn cột
sống cổ...
- Rối loạn vận động, cảm giác
kiểu rễ: bại một số cơ chi trên như dạng vai (C5), bại gấp cẳng tay (C6), bại
duỗi cẳng tay (C7), bại gấp các ngón tay (C8). Có thể kèm theo hiện tượng giật
bó cơ khi bị teo cơ rõ. Tê một vùng ở cánh tay, cẳng tay, bàn ngón tay. Định khu
của hiện tượng giảm cảm giác tùy thuộc vào rễ thần kinh bị chèn ép. Làm nghiệm
pháp căngstyle="mso-spacerun: yes"> dây thần kinh của đám rối cánh tay thì
đau và tê tăng.
- Rối loạn phản xạ kiểu rễ cổ:
giảm hoặc mất phản xạ gân xương do rễ thần kinh chi phói bị chèn ép: Phản xạ gân
cơ nhị đầu cánh tay (C5), phản xạ trâm quay (C6), phản xạ cơ tam đầu (C7).
- Tổn thương rễ thần kinh
cổ:
+ Rễ C1, C2 và một phần C3 tạo
ra dây thần kinh chẩm Arnold, khi tổn thương gây đau đầu vùng chẩm.
+ Rễ C3: đau vùng chẩm gáy;
kèm theo nói khó và tức ngực.
+ Rễ C4: đau bả vai và thành
ngực trước; có ho, nấc, khó thở.
+ Rễ C5: đau mặt ngoài cánh
tay đến cẳng tay; yếu cơ delta.
+ Rễ C6: đau mặt trước cánh
tay đến ngón cái và trỏ; yếu cơ nhị đầu.
+ Rễ C7: đau mặt sau cánh tay
đến ngón giữa; yếu cơ tam đầu.
+ Rễ C8: đau mặt trong cánh
tay đến ngón nhẫn và út; yếu cơ bàn tay.
- Một số nghiệm pháp đánh giá
tổn thương rễ thần kinh cổ:
+ Dấu hiệu chuông bấm: ấn điểm
cạnh sống tương ứng với lỗ ghép thấy đau xuất hiện từ cổ lan xuống vai và cánh
tay.
+ Nghiệm pháp Spurling (ép rễ
thần kinh cổ): bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghiêng đầu về bên đau, thầy thuốc dùng
tay ép lên đỉnh đầu bệnh nhân, đau xuất hiện ở rễ bị tổn thương do làm hẹp lỗ
ghép.
+ Nghiệm pháp căng rễ thần
kinh cổ: bệnh nhân ngồi đầu nghiêng xoay về bên lành. Thầy thuốc cố định vai và
từ từ đẩy đầu bệnh nhân về bên kia, đau xuất hiện dọc theo rễ thần kinh bị tổn
thương. Hoặc bệnh nhân ngồi, thầy thuốc đặt tay lên vùng chẩm ấn từ từ cho cằm
chạm xương ức, đau cũng xuất hiện dọc theo rễ thần kinh bị tổn thương.
+ Nghiệm pháp chùng rễ thần
kinh cổ: bệnh nhân ngồi, thầy thuốc nâng cánh tay bên đau của bệnh nhân lên đầu
và đưa ra sau, các triệu chứng rễ giảm hoặc mất.
+ Nghiệm pháp kéo giãn cột
sống cổ: bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc dùng 2 bàn tay đặt lên cằm và chẩm bệnh
nhân, từ từ kéo theo trục dọc một lực độ 10-15kg, các triệu chứng rễ cũng giảm
hoặc mất.
1.3. Hội chứng
động mạch sống - nền
- Đau đầu vùng chẩm, chóng
mặt, ù tai, mờ mắt, đôi khi có giảm thị lực thoáng qua. Đặc biệt bệnh nhân luôn
thấy người mệt mỏi.
- Rung giật nhãn cầu, hội
chứng tiểu não, hội chứng giao bên. Có cơn sụp đổ (Drop - attacks) khi quay cổ
quá nhanh ở tư thế bất lợi.
1.4. Các hội chứng
thần kinh thực vật
- Hội chứng giao cảm cổ
sau (Hội chứng Barré - Lieou): đau nửa đầu hoặc vùng chẩm,
chóng mặt, ù tai, mờ mắt hoặc mất thị lực thoáng qua, cơn rối loạn vận mạch. Các
triệu chứng trên tăng lên khi quay cổ.
- Hội chứng vai - bàn
tay: đau ở vùng bàn tay, các ngón tay, da bàn tay, có khi xanh
tím, giảm nhiệt độ so với bên lành.
- Kích thích đám rối thần
kinh cổ sau: cơn đau kiểu mạch đập ở vùng chẩm, hội chứng
Claude Bernard - Horner, tê cóng bàn tay kiểu Raynaud, loạn cảm bỏng buốt ở khớp
vai, co cứng các cơ cổ, tức ngực, hụt hơi, dị cảm ở họng.
- Đau quanh khớp
vai: đau có tính chất phản xạ từ cổ xuống vai và cánh tay, đôi
khi có tức ngực vùng trước tim. Khác với viêm quanh khớp vai, ở bệnh nhân này
không có hạn chế vận động khớp vai.
- Hội chứng cơ
thang: đau mặt trong cánh tay xuống ngón 4-5 và đau lan lên
chẩm; đau tăng khi quay và nghiêng đầu sang bên đau kèm theo có lạnh ngọn chi,
xanh tím, phù nề, mất mạch quay. Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh lý còn xương
sườn cổ VII.
1.5. Hội chứng tuỷ
cổ:
Do lồi hoặc thoát vị đĩa đệm
gây chèn tuỷ hoặc rễ thần kinh: biểu hiện sớm bởi dấu hiệu tê bì và mất khéo léo
hai bàn tay, teo cơ 2 tay, đi lại khó khăn nhanh mỏi. Giai đoạn muộn tùy vị trí
tổn thương có thể thấy liệt trung ương tứ chi; liệt ngoại vi hai tay - liệt
trung ương hai chân; rối loạn phản xạ đại tiểu tiện.
2. Dấu hiệu X
quang.
2.1 Chụp X quang
cổ thường quy.
- Hình ảnh X quang trên phim
chụp cổ nghiêng thấy gai xương, mỏ xương ở thân đốt và mấu bán nguyệt, mỏ xương
ở mấu bán nguyệt là lý do quan trọng, trực tiếp làm hẹp lỗ ghép và lỗ động mạch
gây chèn ép rễ thần kinh và động mạch sống.
- Hình ảnh X quang trên phim
chụp cổ tư thế thẳng cho thấy mờ đậm hoặc phì đại mấu bán nguyệt, bên tổn thương
khe khớp bán nguyệt hẹp hơn bên lành.
- Trên phim chụp chếch 3/4 cột
sống cổ thấy lỗ ghép méo mó và bị hẹp.
- Khi thoát vị đĩa đệm có thể
thấy: mất ưỡn cong sinh lý, gai xương trước sau, hẹp khe liên đốt, trượt đốt
sống, hẹp ống sống, hẹp lỗ ghép do gai xương.
2.2. Chụp tuỷ cản
quang cột sống cổ.
Chụp tuỷ cản quang cột sống cổ
khó hơn cột sống thắt lưng, kỹ thuật thường dùng là chụp tủy cổ đường bên giữa
C1 và C2 trong tư thế bệnh nhân nằm sấp ngửa cổ tối đa.
2.3. Chụp cộng
hưởng từ (MRI).
Trên ảnh MRI, đĩa đệm có ranh
giới rõ, giảm tín hiệu trên T1 và tăng tín hiệu trên T2 do có nhiều nước. Các
đĩa đệm thoái hóa do không có nước nên trên T2 tín hiệu không tăng so với các
đĩa đệm khác. Khối đĩa đệm thoát vị là phần đồng tín hiệu với đĩa đệm nhô ra
phía sau so với bờ sau thân đốt sống và không ngấm thuốc đối quang từ.
3. Nguyên nhân gây hội
chứng cổ vai cánh tay.
3.1. Thoái hóa cột
sống cổ.
- Thoái hoá đốt sống
(Spondylosis): là sự thoái hoá các thành phần của xương khớp
cùng các dây chằng cột sống tạo nên các gai xương. Hậu quả của thoái hoá các
khớp đốt sống và dây chằng dẫn đến hẹp lỗ ghép (do mọc gai xương, phì đại mỏm
khớp, hẹp đĩa đệm); trượt thân đốt (do mỏm khớp thoái hoá nặng, dây chằng lỏng
lẻo, hở eo) và hẹp ống sống, hẹp lỗ động mạch thân nền.
Đặc biệt, khớp Luschka là một
khớp giả đặc trưng chỉ ở cột sống cổ mới có, trong hoạt động chức năng luôn bị
kích thích và dễ hình thành các mỏ xương ở giữa hai bờ thành sau ngoài đốt sống
và có thể gây chèn ép vào tủy sống.
- Thoái hoá đĩa đệm (Disc
degeneration): gồm tổn thương nhân nhày mất nước, vòng sợi
giảm chiều cao và có nhiều vết rách (nứt), dẫn tới hẹp đĩa đệm và các đốt sống
tiến lại gần nhau hơn, làm thay đổi sự hài hòa của các khớp đốt sống và làm thay
đổi lỗ tiếp hợp.
- Hư xương sụn cột sống
(Osteochondrosis): Là sự thoái hoá loạn dưỡng đĩa đệm và sự
phản ứng của các tổ chức kế cận (dày mâm sụn, co cứng cơ cạnh sống, đau rễ thần
kinh), biến đổi tăng dần theo lứa tuổi.
3.2. Thoát vị đĩa
đệm cột sống cổ.
3.2.1. Các hình thái thoát
vị đĩa đệm cột sống cổ.
- Thoát vị đĩa đệm theo hướng
ra sau giữa gây chèn ép tủy hai bên (Hình 6.14-1).
- Thoát vị đĩa đệm theo hướng
cạnh giữa gây chèn ép một bên thân tủy (Hình 6.14-2).
- Thoát vị đĩa đệm theo hướng
sau ngoài gây chèn ép một bên thân tủy và rễ thần kinh (Hình
6.14-3).
- Thoát vị đĩa đệm vào lỗ tiếp
hợp gây chèn ép vào nhánh rễ thần kinh (Hình 6.14-4).
- Thoát vị đĩa đệm sang bên
gây chèn ép vào động mạch sống và dây thần kinh sống (Hình
6.14-5).
- Thoát vị đĩa đệm ra trước
không gây chèn ép vào rễ thần kinh, thân tủy và động mạch
sống (Hình 6.14-6).
3.2.2. Đặc điểm lâm sàng
thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.
Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ
có bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng, phong phú, thay đổi tùy thuộc vào vị trí, thể
loại, mức độ thoát vị và các giai đoạn của bệnh. Các hội chứng lâm sàng thường
gặp là: hội chứng chèn ép rễ đơn thuần, hội chứng chèn ép tủy đơn thuần, hội
chứng tủy rễ phối hợp và hội chứng rối loạn thần kinh thực vật.
- Hội chứng chèn ép rễ đơn
thuần: có bệnh cảnh giống hội chứng cổ vai cánh tay như đã trình bày ở trên.
- Hội chứng chèn ép tủy đơn
thuần thường khởi phát âm thầm, tiến triển từ từ trong thời gian dài với các
biểu hiện:
+ Rối loạn vận động: là triệu
chứng nổi bật, lúc đầu thấy mất khéo léo bàn tay, thay đổi dáng đi, đến các biểu
hiện liệt ngoại vi hai tay và liệt trung ương hai chân. Kèm theo là các rối loạn
về phản xạ và cơ tròn.
+ Rối loạn cảm giác: thường
gặp tê bì ngọn chi trên, kèm theo có giảm cảm giác kiểu dẫn truyền
dưới mức tổn thương. Thường giảm cảm giác đau và nhiệt, có thể
giảm cả cảm giác sâu và cảm giác rung, nhưng cảm giác xúc giác thường vẫn
còn.
+ Cột sống cổ đau nhẹ hoặc
không đau, có thể có hạn chế vận động cột sống cổ.
- Hội chứng tủy rễ phối hợp:
là hội chứng thường gặp, đợt cấp tính của hội chứng rễ tủy có thể xảy ra sau một
chấn thương nhẹ trên bệnh nhân có thoái hóa cột sống cổ. Thường triệu chứng tủy
rõ hơn triệu chứng rễ, các rối loạn về vận động và phản xạ rõ hơn rối loạn về
cảm giác.
- Hội chứng rối loạn thần kinh
thực vật: do thoát vị chèn vào dây chằng dọc sau, các màng tủy, mạch máu là
những nơi có dây thần kinh đốt sống chi phối, dây này đã được bổ sung các sợi
giao cảm từ hạch giao cảm cổ và hạch sao; còn do khớp mỏm móc đốt sống thoái hóa
đè vào động mạch đốt sống. Biểu hiện lâm sàng: chóng mặt ù tai, mất thăng bằng;
mắt mờ từng cơn, đôi khi đau ở phần sau hốc mắt; đỏ mặt đột ngột, cơn
hạ huyết
áp, vã mồ hôi, tăng nhu động ruột, cơn đau ngực do căn nguyên cột sống
hay gặp trong thoát vị đĩa đệm C6-C7. Các gai xương phía trước hoặc thoát vị đĩa
đệm ra trước gây khó nuốt do chèn ép thực quản.
4. Điều trị hội chứng
cổ vai cánh tay.
- Thuốc giảm đau chống
viêm.
- Nhiệt: tốt nhất là dùng
paraffin đắp lên vùng cổ gáy, không nên chiếu hồng ngoại vào vùng gáy vì dễ làm
kích thích hành tủy gây đau đầu.
- Điện xung: có thể dùng dòng
TENS, dòng 2-5, dòng Diadynamic...
- Châm cứu: các huyệt Phong
trì, Kiên ngung, Kiên tỉnh, Thiên tông, Khúc trì, Hợp cốc...
- Kéo giãn cột sống cổ: là
biện pháp điều trị cơ bản, với mục đích làm rộng các khe khớp, các lỗ ghép giảm
chèn ép các rễ thần kinh; giãn cơ làm giảm co cứng cơ; giảm sự di lệch khớp.
Thông thường, có thể chọn lực kéo lần đầu khoảng 7-8kg, rồi tăng dần mỗi lần 1kg
cho đến khi đạt khoảng 20% thể trọng thì duy trì lực này cho đến hết đợt. Đối
với tư thế ngồi lực kéo phải cao hơn để thắng được trọng lượng của đầu. Thời
gian một lần kéo 10-15 phút, mỗi đợi 15-20 ngày.
- Tập vận động cổ, bả vai,
khớp vai, cánh tay:
- Dự phòng:
+ Không làm việc quá lâu tại
bàn giấy, đặc biệt là với máy vi tính, cứ mỗi 30 phút nên dừng lại để thực hiện
các động tác vận động cột sống cổ, vai và tay.
+ Giữ ấm vùng cổ vai khi trời
lạnh, khi đi xe máy, khi ngủ…
+
Tập luyện các môn thể thao nhẹ nhàng, tránh tác động mạnh lên vai tay.
Tác giả Bs Mai Trung Dũng
theo
dieutridau.com
-----------------------------------Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 12 10, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét