Có rất nhiều khái niệm về vết thương như: "Vết
thương phần mềm chỉ các thương
tích gây rách da và gây tổn thương mô liên kết dưới da, gân và cơ".
Hoặc: "Vết
thương được xem như sự gián đoạn trong sự liên tục của tế bào. Sự lành vết
thương là sự phục hồi của sự liên tục đó".
1. PHÂN
LOẠI
1.1.
Theo cơ chế vết thương
–
Vết thương do rạch: do dụng cụ sắc, bén, nhọn, có tổn thương giải phẫu như đứt
cơ, mạch máu… nhưng nguy cơ chính là nhiễm trùng.
– Vết thương
bầm giập: do vật tù, đặc trưng như tổn thương phần mềm có chảy máu, tổn thương
giải phẫu nhiều, sưng, nhiễm trùng, có nhiều mô giập nát.
–
Vết thương rách nát: là vết thương bờ lởm chởm không đều, tổn thương giải phẫu
nhiều, nhiễm trùng tăng cao, lành vết thương chậm và sẹo xấu.
–
Vết thương thủng: do dao đâm, đạn bắn, lỗ vào nhỏ nhưng lỗ ra lớn và tổn thương
giải phẫu nhiều.
1.2.
Theo mức độ ô nhiễm
–
Vết thương sạch: là vết thương ngoại khoa không bị nhiễm khuẩn. Vết thương không
nằm trong vùng của hô hấp, bài tiết, sinh dục, tiết niệu.
–
Vết thương sạch nhiễm: là vết thương nằm trong vùng của hô hấp, bài tiết, sinh
dục, tiết niệu nhưng có sự kiểm soát nhiễm trùng, vết thương không có dấu hiệu
nhiễm trùng.
–
Vết thương nhiễm: vết thương nhiễm trùng, vết thương do tai nạn, vết thương trên
vùng có nhiễm khuẩn trước mổ. Ví dụ: viêm phúc mạc, chấn thương
ruột,...
–
Vết thương bẩn: vết thương có mủ và có nguồn gốc bẩn trước.
1.3.
Theo nguyên nhân
Phẫu
thuật: do vết rạch hay cắt lọc.
Chấn
thương: do cơ học, do nhiệt độ, do hoá chất.
1.4.
Theo thời gian
–
Vết thương cấp tính: là vết thương do chấn thương, do phẫu thuật. Chăm
sóc vết thương
cấp tính với môi trường tốt thì khả năng lành vết thương sau 4
–14 ngày.
Vết thương cấp tính thường nhiễm khuẩn, chảy máu, vết thương nứt nẻ, vết thương
hở, rò sẽ có nguy cơ chậm lành vết thương.
– Vết thương
mạn tính: loét giường, bàn chân tiểu đường, rò vết thương do lao thường kéo dài
thời gian lành vết thương. Nguyên nhân chậm lành vết thương do tiểu đường, tuần
hoàn kém, tình trạng dinh dưỡng kém, giảm sức đề kháng.
–
Vết thương mạn tính thường có nhiều mô hoại tử, vì thế việc điều trị thường kèm
theo cắt lọc vết thương và chăm sóc tốt.
2. GIẢI
PHẪU BỆNH
Khi
có vết thương thì da sẽ bị khuyết mất mô, các thương tích, vết mổ của các loại
mô mềm sẽ ảnh hưởng đến da, mô liên kết, lân cơ. Tại da, nơi đây là cửa ngõ cho
vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây nguy cơ nhiễm trùng. Mô liên kết là nơi ứ đọng
máu, là nơi cung cấp thức ăn giúp vi khuẩn sống và phát triển. Khi có vết thương
ở vùng cân cơ, do cân cơ thường kém đàn hồi và cân đóng kín nên sẽ giúp vi khuẩn
có nơi ẩn nấp để phát triển. Khi vết thương có máu bầm, bị tắc mạch, sưng nề đều
có nguy cơ chèn ép khoang. Ngoài ra, phần cơ giập nát hoại tử là nơi cung cấp
thức ăn cho vi khuẩn, là môi trường nuôi dưỡng vi khuẩn tốt nhất. Vết thương gây
ra 3 nguy cơ: chảy máu vết thương, nhiễm trùng vết thương, khuyết mất mô, chậm
liền vết thương và sẹo xấu.
3. SINH LÝ
CỦA SỰ LÀNH VẾT THƯƠNG
3.1.
Thời kỳ viêm
Thời kỳ này
còn
gọi là thời gian Friedrich, khoảng 6 ngày đầu. Thời gian này tại vết thương tuy
có vi khuẩn nhưng chưa nhiễm, mạch máu bị tổn thương nên hồng cầu đem các chất
dinh dưỡng, oxy tới tổ chức giảm và dẫn tới hiện tượng tiêu huỷ, xuất hiện các
men tiêu huỷ nội bào và proteaze của bạch cầu giúp tiêu huỷ các mô giập
nát.
Tự
làm sạch vết thương: bạch
cầu vừa thực bào vừa tiêu diệt vi khuẩn, vừa dọn sạch mô chết biểu hiện qua tình
trạng viêm và nung mủ. Vì thế, trong giai đoạn này điều trị và chăm sóc nhằm
chống lại hiện tượng ứ đọng nên cần dẫn lưu dịch vết thương và bạch cầu lưu
thông nhiều hơn.
3.2.
Thời kỳ tăng sinh (giai đoạn lấp đầy
– phục hồi tạo mô mới)
Vết
thương được lấp đầy bằng các tổ chức hạt, có nhiều mạch máu và nguyên bào sợi
đụng vào thì chảy máu, mô hạt lấp đầy vùng khuyết mất mô và tạo hàng rào ngăn
cản vi khuẩn, bảo vệ vết thương.
3.3.
Thời kỳ trưởng thành (giai đoạn co rút – ngoại bì co
lại)
Sự
hình thành fibrin trong vết thương dần dần biến thành tổ chức sợi lấp đầy vết
thương, đồng thời biểu bì từ mép vết thương đi vào từ đó, ở các mép vết thương
co rút dần, sự sản xuất collagen gắn 2 mép vết thương lại.
4. CÁC
HÌNH THỨC LIỀN VẾT THƯƠNG
4.1.
Liền nguyên phát
Vết
thương không nhiễm trùng, không đọng máu, không ngoại vật, không ổ hoại tử, các
mép vết thương khép chặt vào nhau, có sinh lực tốt và có fibrin giữ 2 mép vết
thương giúp vết thương liền trong thời kỳ đầu, vì thế sẹo nhỏ, đẹp.
4.2.
Liền thứ phát
Liền
bằng tổ chức hạt.
5. NHIỄM
TRÙNG VẾT MỔ
Theo CDC định
nghĩa nhiễm trùng vết mổ dựa theo 3 tiêu chuẩn chiến lược là:
–
Nhiễm trùng trên bề mặt vết mổ.
–
Nhiễm trùng sâu bên trong của vết mổ.
–
Nhiễm trùng các cơ quan hay các khoang của vị trí mổ.
5.1. Nhiễm
trùng bề mặt của vết mổ
Mô
liên quan: da
và mô dưới da.
Dấu
hiệu và triệu chứng:
+
Mủ chảy ra từ bề mặt vết mổ.
+
Dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng: đau, sưng, đỏ, nóng.
5.2. Nhiễm
trùng sâu trong vết mổ
– Mô
liên quan: mô mềm sâu trong vết mổ.
– Dấu
hiệu và triệu chứng:
+
Mủ chảy ra từ sâu trong vết mổ nhưng không từ cơ quan hay khoang của cơ
thể.
+
Vết mổ tự động vỡ ra hay do phẫu thuật viên mở ra khi người bệnh có ít nhất các
triệu chứng sau: sốt > 380C, đau tại chỗ vết mổ.
Có
áp-xe hay có bằng chứng khác của nhiễm trùng.
5.3. Nhiễm
trùng cơ quan hay khoang cơ thể
– Mô
liên quan: bất kỳ tạng nào của thì giải phẫu được mở ra hay do
dùng tay trong giải phẫu.
– Dấu
hiệu và triệu chứng:
+
Mủ chảy ra từ ống dẫn lưu đặt trong khoang hay cơ quan cơ thể.
+
Áp-xe hay có bằng chứng khác của nhiễm trùng.
+
Được chẩn đoán bởi bác sĩ.
5.4.
Nguyên nhân nhiễm trùng vết mổ theo SSIs (Surgical
site infections)
Hầu
hết nhiễm trùng vết mổ được gây ra do vi trùng xâm nhập vào cơ thể qua đường vết
mổ trên vùng cơ thể của người bệnh.
Bệnh
lý mạn tính cũng có thể ảnh hưởng đến sự nhạy cảm của nhiễm trùng vết
mổ.
Những
nguy cơ khác bao gồm trong chu trình phẫu thuật như: truyền máu, sử dụng
steroid, tình trạng suy dinh dưỡng, nhiễm trùng mũi họng trước mổ với
Staphylococcus Aureus.
6. NGUYÊN
TẮC ĐIỀU TRỊ VÀ CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG
6.1.
Đánh giá vết thương
Điều dưỡng
nhận định tình trạng mép vết thương phẳng gọn thì quá trình lành nhanh nhưng nếu
vết thương bờ nham nhở thì khả năng hai mép vết thương khó khép chặt lại. Vết
thương mới tiến triển lành tốt hơn vết thương cũ, vết thương có kèm tổn thương
khác cũng làm tình trạng vết thương dễ bị ô nhiễm hơn, giảm sức đề kháng hơn và
khả năng lành vết thương cũng kéo dài. Vị trí vết thương trên cơ thể cũng rất
quan trọng vì vùng có nhiều máu nuôi, vùng sạch, khả năng nhiễm trùng ít và cung
cấp nhiều máu hơn thì thời gian lành vết thương ngắn hơn. Tổng trạng tốt cũng
giúp vết thương mau lành, người béo phì hay suy dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến
khả năng lành vết thương, thường là lành vết thương kém. Có kèm bệnh lý khác kèm
theo: tiểu đường, lao, ung thư thì việc bục vết khâu có nguy cơ xảy ra và tiến
trình lành vết thương chậm lại.
6.2. Nguyên tắc điều
trị
– Loại
bỏ dị vật, mô giập: bất
kỳ vết thương nào cũng có sự hiện diện của vi khuẩn, do đó loại bỏ mô giập, lấy
sạch máu tụ, dị vật là cắt đứt nguồn cung cấp thức ăn cho vi khuẩn; luôn giữ
tình trạng vô khuẩn, tránh đem thêm vi khuẩn mới vào.
– Mở
rộng vết thương dẫn lưu tốt: sự
ứ đọng dịch, máu cũ, dị vật,… cung cấp thức ăn cho vi khuẩn. Sự ứ dịch làm mô
vết thương không có khả năng tăng sinh mô hạt. Vì thế cần dẫn lưu dịch thật tốt
để kích thích mô hạt mọc đẩy nhanh quá trình lành vết thương.
– Giúp
vết thương mau lành: Bất
kỳ vết thương nào cũng có hàng rào bảo vệ nên khi chăm sóc vết thương điều dưỡng
không nên phá huỷ hàng rào tự vệ đó như: tránh làm tổn thương vùng xung quanh
vết thương, không luôn chạm tới vết thương; thay băng thường xuyên không đúng kỹ
thuật, như tháo băng cũ cũng là hình thức tổn thương mô hạt vừa hình thành và
như thế chúng ta vừa tạo thêm cho người bệnh một vết thương mới. Dung dịch sát
khuẩn là hàng rào bảo vệ tránh vi khuẩn xâm nhập nhưng nó cũng có nguy cơ làm
tổn thương mô hạt nên không dùng dung dịch sát khuẩn bôi lên vết thương nếu
không có chỉ định. Vết thương luôn tiết dịch nên việc giữ ẩm vết thương là cần
thiết nhưng không phải là làm ướt vết thương, do đó điều dưỡng cần thay băng khi
thấm ướt. Khi có vết thương, người bệnh rất đau, điều dưỡng chú ý tránh làm đau
người bệnh khi thay băng, nên thực hiện thuốc giảm đau trước khi thay băng nếu
nhận định vết thương có thể làm người bệnh đau.
7.
NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY NHIỄM TRÙNG VẾT MỔ
7.1. Tại
chỗ: Ô
nhiễm, dị vật, kỹ thuật khâu có sai sót, mô mất sinh lực, tụ máu, nhiễm trùng từ
trước, vị trí nơi giải phẫu ở vùng thiếu máu nuôi hay đang có sự hiện diện của
vi khuẩn khi đóng vết mổ: thường do vi khuẩn Staphy-lococcus aureus. Vết thương
do tỳ đè, do bệnh tiểu đường; do kỹ thuật giải phẫu như vết thương hở đóng chậm,
mô giập nát rộng, vết khâu căng, vết thương có dẫn lưu.
7.2. Toàn
thân: Suy
kiệt, mất nước, thiếu máu, thiếu dinh dưỡng, tuổi cao, béo phì, choáng, có bệnh
mạn tính kèm theo, suy hô hấp, suy tuần hoàn, ung thư, thuốc, sự trì hoãn trước
mổ kéo dài, phẫu thuật kéo dài.
8. CHĂM
SÓC VẾT THƯƠNG
8.1. Băng kín
vết thương: là
tạo ra môi trường thích hợp cho sự lành vết thương do băng hấp thu dịch tốt,
giúp bảo vệ vết thương không bị va chạm, tổn thương. Thay băng mới cũng là hình
thức tránh mô mới mọc sâu vào băng cũ, khi tháo băng điều dưỡng có thể tạo vết
thương mới trên mô hạt mới hình thành. Băng kín vết thương cũng giúp bảo vệ vết
thương không bị ô nhiễm từ bên ngoài như bụi, không khí ô nhiễm, dị vật. Vết
thương quá ướt hay quá khô đều làm chậm lành vết thương nên việc băng vết thương
giúp duy trì độ ẩm thích hợp trên bề mặt vết thương. Ngoài ra, băng kín vết
thương cũng giúp cầm máu khi băng ép hay nẹp bất động vết thương, và trên hết,
băng vết thương thường tạo cho người bệnh cảm giác an tâm.
8.2 Không
băng vết thương: cũng
có ích lợi cho vết thương như loại trừ những điều kiện giúp vi khuẩn mọc (ẩm,
ấm, tối). Với một vết thương không băng giúp điều dưỡng quan sát, theo dõi diễn
biến tình trạng dễ dàng, dễ tắm rửa. Như đã nói, việc tháo băng không đúng cách
cũng có nguy cơ tạo thêm vết thương cho người bệnh nên việc không thay băng là
tránh tổn thương thêm cũng như tránh dị ứng băng dính và tiết kiệm bông băng,
dung dịch…
8.3.
Kỹ thuật rửa vết thương: Rửa
vết thương theo đường thẳng từ đỉnh đến đáy và thao tác từ trong ra ngoài, từ
vết cắt theo đường thẳng chạy song song với vết thương. Luôn rửa từ vùng sạch
đến vùng ít sạch và sử dụng tăm bông hoặc miếng gạc cho mỗi lần lau theo chiều
đi xuống. Đối với một vết thương đã mở, làm ẩm miếng gạc bằng một tác nhân làm
sạch và vắt khô dung dịch thừa, rửa vết thương bằng 1,2 vòng tròn hay cả vòng
tròn đi từ trung tâm ra phía ngoài. Nên rửa vết thương tối thiểu 2,5cm vượt qua
phần cuối của gạc mới, hoặc vượt qua rìa của vết thương là 5cm. Chọn miếng gạc
đủ độ mềm để đưa vào chạm bề mặt vết thương.
Nên
sử dụng những dung dịch không gây hại với mô cơ thể và không cản trở sự lành vết
thương. Miếng gạc có thể bằng chất tổng hợp hoặc cotton (cotton thường được sử
dụng hơn vì nó có kẽ hở lớn, chúng giữ lại chất làm ẩm và phù hợp với vết
thương).
– Trước
khi áp băng gạc vào vết thương phải theo các bước
sau:
+
Kiểm soát lại thứ tự việc chăm sóc vết thương.
+
Xem lại vòng đeo tay xác minh tên của người bệnh.
+
Giải thích thủ tục cho người bệnh.
– Để
áp một băng gạc mới lên vết thương: cần đặt gạc nhẹ nhàng vào trung tâm vết
thương, nới rộng ra hai bên tối thiểu là 2,5cm so với mép vết thương. Những vết
thương đang rỉ dịch nhiều một băng gạc hút nước có nhiều lớp phía trên gạc, có
thể áp 2 đến 3 lớp để hút dịch cho đến khi đổi băng gạc kế
tiếp. Khi
băng gạc đã được đặt vào chỗ, điều dưỡng nên tháo găng ra để tránh băng keo dính
vào găng. Gắn chặt mép gạc vào da của người bệnh bằng băng keo, hoặc làm chặt
băng với một nút thắt, băng co giãn, sao cho người bệnh thấy thoải
mái.
9. NỀN
TẢNG CHỮA LÀNH VẾT THƯƠNG
Yếu
tố toàn thân gồm: tuổi, cơ địa, bệnh mạn tính, tình trạng dinh dưỡng, suy mạch,
giảm sức đề kháng của cơ thể, xạ trị…
Tuổi:
những người bệnh già có thể hấp thu chất dinh dưỡng không đủ, ít hấp thu nước.
Hệ thống miễn nhiễm, hệ thống tuần hoàn, hô hấp cũng suy yếu. Những yếu tố này
có nguy cơ làm tăng sự huỷ hoại của da và trì hoãn việc lành vết
thương.
Cơ
địa: cũng
tác động đến việc lành vết thương những người bệnh béo phì, việc lành vết thương
bị chậm bởi mô mỡ hạn chế máu tới nuôi vết thương. Khi một người bệnh suy dinh
dưỡng việc thiếu oxy và chất dinh dưỡng có thể hạn chế việc lành vết
thương.
Những
căn bệnh mạn tính: tác
động đến việc lành vết thương là bệnh động mạch vành, bệnh mạch ngoại vi, ung
thư và bệnh tiểu đường những người bị bệnh tiểu đường lệ thuộc vào Insulin,
những vết thương mạn tính có đặc thù là lành chậm bởi vì việc sản xuất ra mô hạt
lệ thuộc vào Insulin, khối lượng Insulin không đủ có thể làm trì hoãn sự tạo
thành mô hạt. Tuy nhiên, điều dưỡng lâm sàng nên theo dõi đường huyết và xem kỹ
để tìm ra dấu hiệu những triệu chứng nhiễm trùng, mà những triệu chứng này có
thể khó nhận ra.
Tình
trạng dinh dưỡng: việc
đánh giá liên tục về tình trạng dinh dưỡng của người bệnh là cần thiết vì sự
biểu hiện bề ngoài của người bệnh hoặc của vết thương có thể dễ nhìn thấy thì
không đáng tin tưởng vì không biết người bệnh có nhận được khối dinh dưỡng phù
hợp không. Những xét nghiệm có giá trị là protein toàn phần, albumin, chất điện
giải, dung tích hồng cầu cần phải được đánh giá và theo dõi thường
xuyên.
Bảng
4.1. Những chất dinh dưỡng cần thiết cho việc lành vết thương
|
Chất
dinh dưỡng
|
Chức
năng
|
Kết
quả của sự thiếu hụt
|
|
Protein
|
–
Sản xuất yếu tố đông máu
– Sản xuất và di chuyển
của bạch cầu
–
Tăng sinh mô bào sợi
–
Tạo mạch mới (neovascularization)
–
Tổng hợp chất tạo keo
–
Tăng sinh tế bào biểu mô
–
Tái tạo vết thương
|
–
Rối loạn đông máu
–
Chậm lành vết thương
–
Phù
–
Thiếu hụt tế bào lymphô
(lymphopenia)
–
Suy giảm miễn dịch tế bào
|
|
Albumin
|
Duy
trì áp thẩm thấu
|
Thiếu
albumin gây phù toàn thân, khuếch tán oxy chậm và cơ thể chuyển hoá chậm từ mao
mạch và màng tế bào
|
|
Carbohydrates
|
Cung cấp năng lượng cho
tế bào
|
Khi
thiếu,
cơ thể sử dụng protein cơ bắp và nội tạng để tạo
ra năng lượng
|
|
Chất
béo
|
–
Cung cấp năng lượng tế bào, acid béo cần thiết
–
Chế tạo màng tế bào
–
Sản xuất chất prostaglandin
|
Sửa
chữa mô bị ngưng
|
|
Vitamin
A
|
–
Tổng hợp chất tạo keo
–
Tạo kiểu mô
|
Chậm
lành vết thương
|
|
Vitamin
C
|
Giữ
cho màng tế bào nguyên vẹn
|
–
Bệnh Scorbut
–
Chậm lành vết thương
–
Mao mạch dễ vỡ
|
|
Vitamin
K
|
Đông
máu
|
Nguy
cơ xuất huyết tăng, dễ tụ máu
|
|
Vitamin
B1,
B6 và B12 |
–
Tạo kháng thể và tế bào bạch cầu
–
Đồng yếu tố trong việc phát triển tế bào
–
Thúc đẩy hoạt động enzym
|
Kết
quả đề kháng nhiễm trùng giảm
|
|
Đồng
|
|
Tổng
hợp chất keo bị giảm
|
|
Sắt
|
Tổng
hợp chất keo, tăng hoạt động diệt khuẩn của bạch cầu
|
–
Thiếu máu cục bộ tăng
–
Sức căng cơ giảm
|
|
Kẽm
|
–
Tăng sinh tế bào
–
Là chất co-enzym
|
–
Chậm lành vết thương
–
Biến đổi vị giác gây biếng ăn
|
10. NHỮNG
HƯỚNG DẪN GIÚP ĐIỀU DƯỠNG PHÒNG NGỪA NHIỄM TRÙNG VẾT THƯƠNG
10.1 Tại
chỗ: Thẩm
định thường xuyên các dấu hiệu nhiễm trùng vết thương như màu sắc niêm mạc tái,
nhiều mủ trên vết thương, có mùi hôi hơn, có mô hoại tử nhiều hơn. Để đẩy nhanh
quá trình lành vết thương, điều dưỡng phải áp dụng thay băng đúng kỹ thuật vô
khuẩn, dẫn lưu mủ tốt, lấy hết dị vật, cắt lọc mô hoại tử theo y lệnh. Nhận định
tình trạng vết thương trước khi thay băng. Điều dưỡng cần nhẹ nhàng khi tháo
băng, cần làm ướt băng trước khi tháo để tránh tạo vết thương mới. Chọn dung
dịch và sử dụng dung dịch thích hợp, thực hiện y lệnh về dung dịch rửa nếu có.
Không làm chảy máu khi thay băng. Khi rửa vết thương tránh để lại dị vật trên
vết thương như: gòn, chỉ, bột phấn... vì nếu còn sót lại ở vết thương thì chính
chúng cản trở sự lành vết thương. Cách băng vết thương cũng ảnh hưởng đến tình
trạng vết thương như nếu băng chặt làm máu tới nuôi kém, nếu băng quá hẹp cho
phép vi khuẩn xâm nhập vào vết thương. Nếu có dẫn lưu thì chăm sóc dẫn lưu đúng
nguyên tắc, phòng dịch tràn vào vết mổ, chăm sóc da vùng chân dẫn lưu, câu nối
thấp, giáo dục cách sinh hoạt, đi lại khi có dẫn lưu.
10.2 Toàn
thân: người
bệnh cần được cung cấp nhiều chất dinh dưỡng. Dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự lành
vết thương vì protein làm nền tảng tạo quân bình mới, điều chỉnh sự thấm lọc máu
và dịch trong cơ thể, hình thành prothrombine, enzyme, hormone, đề kháng của cơ
thể. Ngoài ra, còn có các chất dinh dưỡng chính yếu khác như nước, vitamin A, C,
E, B6, B12, Sắt, Kẽm, Calcium. Cung cấp đủ oxy rất cần thiết vì sự suy giảm oxy
sẽ ức chế sự di chuyển của fibroblast rất tốt cho sự tổng hợp collagen, hậu quả
là làm giảm sức mạnh co giãn vết thương.
Theo dõi
nhiệt độ để đánh giá tình trạng nhiễm trùng của người bệnh. Stress cũng làm chậm
lành vết thương, vì thế điều dưỡng giúp người bệnh thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.
Thực hiện thuốc giảm đau khi cần thiết, tránh làm người bệnh đau khi thay băng.
Thực hiện kháng sinh theo y lệnh. Cần theo dõi tác dụng phụ thuốc steroid, thuốc
kháng đông, kháng sinh phổ rộng, chống ung thư là những thuốc làm chậm lành vết
thương. Giáo dục hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc vết thương. Vệ sinh cá nhân
sạch sẽ, nhất là vùng da gần vết thương.
11. BIẾN
CHỨNG
11.1. Chảy
máu, tụ máu: thường
do tình trạng cầm máu trong phẫu thuật chưa được an toàn, do người bệnh suy dinh
dưỡng bục chỗ khâu cầm máu, hay do điều dưỡng tháo băng quá sớm trong những
trường hợp băng ép cầm máu. Và
việc tháo băng người bệnh không đúng cũng có nguy cơ chảy máu
vết thương.
11.2. Nhiễm
khuẩn vết thương là
vấn đề lớn trong bệnh viện do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân: do tình
trạng vết thương, do kỹ thuật khâu, do môi trường bệnh viện, do không tuân thủ
tình trạng vô khuẩn khi chăm sóc...
11.3. Rò, vết
thương không lành thường
xảy ra ở người bệnh suy kiệt, choáng, người bệnh ung thư, AIDS, nhiễm trùng,
lao…
11.4. Vết
thương hở: trong
tình trạng nhiễm trùng nặng có nhiều mủ, bẩn, cần được chăm sóc như rạch
áp-xe,...
11.5.
Sẹo xấu
– Sẹo
lồi: to, dày, chắc, căng, màu tím, đỏ ngứa, không tự
khỏi.
+
Sẹo phì đại: do sự phát triển không ổn định, không bình thường của chất tạo keo
và mô xơ. Sẹo trở nên dày, chắc, ít di động, cảm giác căng da. Có thể tự khỏi
sau 2–3 tháng.
+
Sẹo co rút: do sự phân bổ không đều của sợi tạo keo.
+
Sẹo ung thư hoá: căng nứt, loét kéo dài.
CÂU HỎI LƯỢNG
GIÁ
Trả
lời đúng, sai các sau bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp:
|
TT
|
Câu
hỏi
|
Đúng
|
Sai
|
|
4
|
Người
bệnh choáng cũng ảnh hưởng đến sự lành vết thương.
|
|
|
|
5
|
Vết
thương cần được cắt lọc tốt để tránh người bệnh không lo sợ.
|
|
|
|
6
|
Không
dùng dung dịch sát khuẩn bôi lên vết thương đang mọc mô hạt.
|
|
|
|
7
|
Nên
băng ép tất cả vết thương.
|
|
|
|
8
|
Dấu
hiệu nhiễm trùng vết thương là sưng, nóng, đỏ, đau.
|
|
|
|
9
|
Chỉ
cung cấp thức ăn nhiều vitamin là giúp vết thương mau lành.
|
|
|
|
10
|
Đau
cũng ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương.
|
|
|
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1. Medical
Surgical Nursing, Lewis Collier Heitkemper/MOSBY, 1992
2. Mosby's
Manual of Clinical Nursing, second edition. Jun M. Thompson,
1986.
3. Chăm
sóc ngoại khoa (Tài liệu thí điểm giảng dạy điều dưỡng trung
học), Đề án hỗ trợ hệ thống đào tạo 03– SIDA, HàNội, 1994.
4. Medical
Surgical Nursing, Foundations for Clinical Practice, Edition, Frances
Donovan Monahan, Marianne Neighbors, 1998.
5. Vết
thương phần mềm, Bệnh học ngoại khoa, tập 5, Đại học Y Dược TP.
Hồ Chí Minh, 1987.
-----------------------------------Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
-----------------------------------
tháng 12 07, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét