1. LỊCH
SỬ NGOẠI KHOA
– Giải phẫu
thời cổ đại: Phương
pháp giải phẫu đầu tiên được ghi lại ở Ai Cập vào năm 2250 trước Công nguyên
(TCN) như mổ bướu cổ, rạch ung nhọt. Hippocrates (Hy Lạp, 460–377 TCN) được coi
như cha đẻ của nền Y học phương Tây. Ông cho rằng, bệnh tật là do những thay đổi
vật chất trong cơ thể chứ không phải ý muốn của Thượng Đế. Ông có nhiều đóng góp
trong điều trị gãy xương,
trật khớp; hiện nay, phương pháp của ông vẫn còn ứng dụng trong
ngành chỉnh
hình.
– Y học
thời trung cổ: Thời
kỳ này, nhà thờ thống trị xã hội. Y học thời kỳ này quan niệm: mổ xẻ là không
cần thiết, ngoại khoa bị thoái triển nghiêm trọng. Mổ xẻ chỉ là công việc thủ
công và được giao cho thợ cắt tóc, đao phủ.
– Y học
thời phục hưng: Ngành
ngoại khoa có những thay đổi theo chiều hướng tiến bộ. Giai đoạn này y học được
phép mổ xác.
– Y học
thời cận đại thực
sự phát triển từ thế kỷ XIX.
– Y học
ngày nay đã
và đang phát triển với những thành tựu như: tuần hoàn ngoài cơ thể, vi phẫu
thuật, thay thế tạng, ghép tạng, can thiệp nội soi, phẫu thuật nội
soi…
2. NỘI
SOI CHẨN ĐOÁN VÀ PHẪU THUẬT QUA NỘI SOI
2.1. Nội
soi thời sơ khai (từ năm 400 TCN – 1805)
Quan
sát các cơ quan bên trong cơ thể luôn là ước mơ của các thầy thuốc trong nhiều
thế kỷ. Hippocrates (460–377 TCN) đã mô tả một dụng cụ để banh trực tràng
(rectal speculum). Hiển nhiên, các dụng cụ thô sơ thời bấy giờ gặp phải trở ngại
kỹ thuật lớn là không có đủ ánh sáng và thường không thể đưa sâu vào cơ quan
quan sát; do đó suốt 2.000 năm ngành nội soi không phát triển.
2.2. Nội
soi thời hiện đại (từ năm 1805 đến nay)
Năm
1901, Kelling đã dùng kính soi bàng quang để quan sát ổ bụng chó sau khi bơm khí
trời vào ổ bụng. Năm 1910, Jacobeus (Thụy Điển) dùng kính soi bàng quang để soi
ổ bụng người. Trong vòng 30 năm, soi ổ bụng chỉ nhằm mục đích chẩn đoán chứ chưa
thể phẫu thuật được.
3. NHỮNG
PHÁT MINH Y HỌC LIÊN QUAN ĐẾN NGOẠI KHOA
3.1. Gây
mê – hồi sức
Ngày
16–10–1846, thầy thuốc ở Boston là William T.G Morton (1819–1868) trình diễn gây
mê bằng ête thành công đã đánh dấu mốc lịch sử giải phẫu.
Đây là
phát minh rất quan trọng trong ngoại khoa vì nó giúp cho cuộc mổ nhẹ
nhàng
hơn, người bệnh ít đau hơn trong phẫu thuật.
3.2.
Truyền máu
James
Blundell, người Anh, truyền máu lần đầu tiên cho một sản phụ vào năm 1818. Nhưng
truyền máu chỉ thật sự bắt đầu từ năm 1930.
3.3. Vô
trùng
Louis
Pasteur (1835–1895), người Pháp, đã tìm ra vi trùng; Joseph Lister (1827–1912)
người Anh, là người đầu tiên sử dụng phương pháp sát trùng trong phẫu
thuật.
3.4.
Kháng sinh
Alexander
Fleming (1881–1955), nhà vi trùng học người Scotland đã tìm ra Penicilline và
sau đó có hàng trăm kháng sinh ra đời. Kháng sinh giúp rất nhiều cho ngành y,
đặc biệt cho ngành ngoại khoa.
4. ĐẶC
ĐIỂM NGOẠI KHOA
4.1.
Định nghĩa
Ngoại
khoa được định nghĩa như một nghệ thuật và khoa học điều trị bệnh, thương tổn và
dị dạng bằng phẫu thuật và dụng cụ chuyên dùng. Phẫu thuật có sự tương quan giữa
người bệnh, phẫu thuật viên, điều dưỡng ngoại khoa và nhóm gây mê.
4.2. Mục
đích của giải phẫu
– Chẩn đoán
bệnh chính xác. Khác
với nội khoa, khi bác sĩ cần chẩn đoán bệnh chính xác thường dựa vào thủ thuật
hay phẫu thuật, lấy bệnh phẩm gửi giải phẫu bệnh lý để đọc kết quả chính
xác.
– Điều trị
triệt căn. Ngoại
khoa thường điều trị bằng cách cắt bỏ phần bị bệnh. Ví dụ: cắt ruột thừa trong
viêm ruột thừa.
– Điều trị
tạm thời. Phẫu
thuật giúp giải quyết những tắc nghẽn hay để giảm đau, giảm những triệu chứng
tạm thời, để có thời gian nâng cao thể trạng, giảm tình trạng nhiễm
trùng.
– Điều trị
phòng ngừa. Trong
những trường hợp bệnh lý có nguy cơ cao trở thành ác tính về sau, điều trị ngoại
khoa can thiệp bằng phẫu thuật giúp cắt bỏ để loại trừ nguy cơ. Ví dụ: cắt polyp
đại tràng.
– Thẩm
mỹ. Phẫu
thuật giúp con người chỉnh sửa cơ thể
bình thường để trở nên đẹp hơn.
– Tái tạo
chỉnh hình. Người
bệnh được chỉnh lại cơ quan bị khuyết tật do dị dạng bẩm sinh hay do dị tật sau
chấn thương bằng chỉnh hình giúp lập lại chức năng bình thường, người bệnh phục
hồi khả năng hoạt động trong cuộc sống thường ngày.
– Ghép cơ
quan. Người
bệnh được ghép một bộ phận của người khác để thay thế bộ phận đã mất chức năng
của mình.
4.3. Xếp loại phẫu thuật
– Bệnh
ngoại khoa bao
hàm ý nghĩa phải bộc lộ các tạng, cơ quan có bệnh tật hay thương tổn mà mắt của
thầy thuốc nhìn thấy để điều trị, được thực hiện bằng phẫu thuật với các dụng cụ
chuyên dùng.
Bệnh
ngoại khoa luôn được phân loại mổ tuỳ vào tình trạng bệnh lý, từng hoàn cảnh
người bệnh, tuỳ yêu cầu người bệnh và tình huống người bệnh cần được mổ cấp cứu
hay mổ chương trình.
– Phẫu
thuật cấp cứu phải
giải quyết trong vòng vài giờ, hoặc nếu tối khẩn thì phải giải quyết ngay như
trong chảy máu động mạch…
– Phẫu
thuật trì hoãn khi
người bệnh có bệnh lý cần mổ cấp cứu nhưng do bệnh lý cần phải chờ một khoảng
thời gian để thầy thuốc theo dõi, điều trị, hồi sức,
chăm sóc trước khi phẫu thuật. Ví dụ: trong những trường hợp nhiễm trùng, người
bệnh cần được điều trị kháng sinh tích cực trước khi tiến hành phẫu
thuật.
– Phẫu
thuật chương trình tuỳ
vào bệnh lý không cần phẫu thuật ngay, tuỳ từng người bệnh muốn phẫu thuật lúc
nào. Thường người bệnh chọn ngày, giờ phẫu thuật và có sự chuẩn bị trước. Người
bệnh có thể nhập viện để chuẩn bị trước mổ hoặc chỉ nhập viện một ngày trước mổ,
hoặc phẫu thuật trong ngày nhưng tất cả đều có sự chuẩn bị chu đáo.
4.4. Phân bố các khoa
Khoa
phòng ngoại khoa luôn được phân chia thành hai khu: khu tiền phẫu và khu hậu
phẫu.
– Khu tiền
phẫu là
nơi người bệnh nằm theo dõi hay chờ phẫu thuật. Nơi đây thường chỉ lưu các bệnh
trước mổ, người bệnh rất cần những thông tin về cuộc mổ sắp đến, người bệnh cần
được theo dõi tình trạng diễn tiến của bệnh.
– Khu hậu
phẫu là
nơi người bệnh đã phẫu thuật, có vết thương, có dẫn
lưu,... Khu
này phân thành khu sạch và khu nhiễm.
Mục
đích của việc chia thành nhiều khu như thế để đảm bảo tình trạng vô khuẩn, lây
chéo giữa các loại bệnh và trên hết vẫn là tâm lý người bệnh trước và sau
mổ.
– Khu phòng
mổ thông
với khu hồi sức hậu phẫu bằng một hành lang kín, bằng phẳng, ngắn. Có sự kết hợp
chặt chẽ giữa nhóm gây mê, điều dưỡng trong phòng mổ và nhóm hồi sức hậu phẫu.
Vô trùng trong ngoại khoa luôn được áp dụng một cách triệt để.
4.5. Đặc
điểm ngoại khoa
Ngoại
khoa có đặc điểm: người bệnh luôn có vết thương do chấn thương, do giải phẫu, có
dẫn lưu, có hậu môn nhân tạo,... Người bệnh có thể có mất mát cũng như biến dạng
trên cơ thể: sẹo, khâu nối, ghép tạng, đoạn chi, mất một bộ phận nào đó trên cơ
thể… Ngoài ra, ngoại khoa luôn kèm theo truyền máu. Do đó, hầu hết các phẫu
thuật đều có chuẩn bị máu trước mổ cho cả mổ trung phẫu hay đại phẫu.
Vấn
đề tâm lý rất quan trọng vì người bệnh thường chịu đựng sự mất mát, đau đớn,
biến dạng, tai biến do phẫu thuật.
Ngoại
khoa còn liên quan đến sự phát triển của máy móc, công tác khử khuẩn, thẩm mỹ.
Ngoại khoa còn liên quan đặc biệt đến gây mê. Ngoại khoa còn có nhiệm vụ quan
trọng là trả người bệnh về với cuộc sống bình thường ở mức độ cho
phép.
5. NHIỆM
VỤ ĐIỀU DƯỠNG NGOẠI KHOA
Ở
thời kỳ sơ khai, không có sự phân biệt giữa việc chăm sóc người bệnh (nursing)
và y học (medicine). Người bệnh được chăm sóc chủ yếu bởi những người có bản
năng giáo dưỡng. Y học ngày nay đã phát triển vượt bậc và người ta đề cập đến
chăm sóc người bệnh toàn diện, chẳng hạn như giáo dục sức khoẻ, chăm sóc sức
khoẻ cho gia đình và cộng đồng, thiết lập sự tin cậy, các biện pháp để giảm
stress… Vấn đề này đã được thuỷ tổ ngành điều dưỡng, bà Florence Nightingale, đề
cập đến từ năm 1893 khi bà nhấn mạnh rằng, cần phải chăm sóc toàn diện người
bệnh nói chung, chứ không phải chỉ chăm sóc căn bệnh. Vào thập niên 60, chăm sóc
người bệnh được xem như công việc của một tập thể (bác sĩ, điều dưỡng, vật lý
trị liệu v.v…) mà mỗi nhà chuyên môn chỉ chú ý đến công việc riêng của mình.
Chẳng hạn, đứng trước một người bị gãy xương chậu, người điều dưỡng chỉ chú ý
đến vấn đề đau và bất động, làm hạn chế vận động của người bệnh, trong khi bác
sĩ phẫu thuật thì lại chú ý đến loại phẫu thuật và loại nẹp vít sẽ sử dụng. Để
khắc phục nhược điểm này, từ thập niên 90 tại các nước phát triển, chăm sóc sức
khoẻ được xem như một sự hợp tác toàn diện giữa các chuyên khoa, trong đó người
điều dưỡng đóng vai trò quan trọng từ khâu tiếp nhận, chăm sóc người bệnh trong
bệnh viện đến khâu chăm sóc tiếp tục tại nhà. Điều đó đòi hỏi ngành y tế phải
phát triển toàn diện.
5.1. Điều
dưỡng ngoại khoa
Nhận
người bệnh từ các khoa, từ cấp cứu, phòng hồi sức, phòng mổ chuyển đến. Trại
ngoại khoa mỗi ngày đều có cuộc hội chẩn cùng với gây mê, phẫu thuật viên để
chọn phương pháp gây mê và phẫu thuật thích hợp cho từng người bệnh. Tuỳ theo
từng bệnh viện, tuỳ từng khoa điều dưỡng sẽ dự buổi họp thông qua mổ mỗi ngày
hay mỗi tuần. Điều dưỡng khoa ngoại phải phối hợp với điều dưỡng phòng mổ sắp
xếp lịch mổ và lên chương trình mổ. Điều dưỡng khoa ngoại cần có kiến thức về
bệnh, về phương pháp phẫu thuật để làm công tác tư tưởng và giáo dục cho người
bệnh trước mổ. Khác với nội khoa, người điều dưỡng khoa ngoại còn phải chuẩn bị
người bệnh trước mổ và chăm sóc người bệnh sau mổ. Nói đến ngoại khoa là nói đến
vô khuẩn. Người điều dưỡng luôn phải cập nhật kiến thức
về chống nhiễm khuẩn trong bệnh viện, luôn phải áp dụng vô trùng ngoại khoa
tuyệt đối trong chăm sóc người bệnh như chăm sóc vết mổ, dẫn lưu… Phòng ngừa
nhiễm trùng chéo giữa các vết thương trên cùng người bệnh hay giữa người bệnh
này với người bệnh khác. Về chăm sóc, phục hồi người bệnh sau mổ, điều dưỡng
ngoại khoa có nhiệm vụ phòng ngừa biến chứng sau mổ, vật lý trị liệu cho người
bệnh, phục hồi vận động sau mổ. Dinh dưỡng sau mổ cũng rất quan trọng, người
bệnh cần được cung cấp dinh dưỡng nhưng tuỳ từng bệnh lý, tuỳ từng phương pháp
phẫu thuật mà điều dưỡng sẽ cung cấp dinh dưỡng qua truyền dịch, ăn bằng miệng,
dẫn lưu nuôi ăn. Điều dưỡng hướng dẫn, chuẩn bị cho người bệnh ra viện với mục
tiêu phòng và tránh biến chứng sau mổ, trả người bệnh về với gia đình, xã hội
với tình trạng tốt nhất.
5.2.
Điều dưỡng phòng mổ
– Sự
kết hợp và chuyển giao. Bàn giao giữa điều dưỡng khoa ngoại với
phòng mổ khi chuyển người bệnh từ khoa ngoại, cấp cứu xuống phòng tiền
phẫu.
Bàn
giao giữa điều dưỡng khoa hậu phẫu và điều dưỡng phòng mổ khi người bệnh phẫu
thuật hoàn tất.
– Lượng
giá người bệnh trước mổ. Lượng giá tình trạng người bệnh về dấu
chứng sinh tồn, tri giác, tâm lý, tổng trạng người bệnh. Xét nghiệm tiền
phẫu, tên
người bệnh, phương pháp gây mê và chẩn đoán trước mổ, phương pháp
phẫu thuật
dự kiến.
– Can
thiệp điều dưỡng trong mổ. Duy trì sự an toàn cho người bệnh, dụng cụ, tư
thế, ánh sáng, phẫu trường. Theo dõi tình trạng sinh lý người bệnh, mạch, huyết
áp, nhiệt độ. Thực hiện đúng nhiệm vụ điều dưỡng được giao trong một cuộc mổ:
điều dưỡng vòng trong và điều dưỡng vòng ngoài. Luôn kết hợp cùng gây mê và nhóm
mổ thực hiện hoàn hảo phẫu thuật cho người bệnh trong suốt thời gian phẫu thuật.
Người điều dưỡng luôn áp dụng vô trùng tuyệt đối trong suốt quá trình phẫu
thuật, phải biết phân biệt thì sạch, thì nhiễm trong chu trình phẫu thuật. Hiểu
biết và sử dụng đúng các dung dịch tiệt khuẩn, máy móc, đưa dụng cụ đúng quy
trình. Phúc trình lại đầy đủ diễn tiến và những bất thường trong mổ vào hồ sơ.
Điều dưỡng luôn đảm bảo môi trường phòng mổ an toàn và vô khuẩn, chấn chỉnh kịp
thời những sai phạm.
Đánh
giá tình trạng người bệnh để chuẩn bị cho người bệnh chuyển từ phòng mổ sang
phòng hồi sức như: dấu chứng sinh tồn, tri giác, chảy máu. Di chuyển người bệnh
an toàn về phòng hồi sức. Bàn giao người bệnh cùng điều dưỡng phòng hồi
sức.
Hiện
nay, cùng với sự phát triển không ngừng của phẫu thuật nội soi, người điều dưỡng
cần cập nhật kiến thức không chỉ nhằm phục vụ cho cuộc phẫu thuật mà còn biết
cách sử dụng và chăm sóc máy móc, biết cách xử trí các loại máy trong phòng mổ
giúp cuộc mổ hoàn thành tốt. Phẫu thuật nội soi đã giúp người bệnh rất nhiều như
giảm đau, thẩm mỹ hơn thì điều dưỡng phòng mổ cũng cần cố gắng hơn trong các trợ
thủ phẫu thuật như cách sử dụng dụng cụ trong các thì phẫu thuật. Ngoài ra, điều
dưỡng phòng mổ cũng cần biết cách tiệt khuẩn, bảo quản dụng cụ nội
soi.
5.3.
Điều dưỡng phòng hồi sức
Bàn
giao giữa điều dưỡng phòng mổ và điều dưỡng phòng hồi sức, nhận định tình trạng
người bệnh sau mổ: dấu chứng sinh tồn, tri giác, vết mổ, dẫn lưu, áp lực tĩnh
mạch trung tâm, bệnh lý, phương pháp phẫu thuật...
Luôn
trau dồi kiến thức chuyên môn và kỹ năng về chăm sóc trong hồi sức cấp cứu, sử
dụng thành thạo các máy móc, dụng cụ hồi sức, trau dồi kiến thức về chống nhiễm
khuẩn trong bệnh viện. Luôn áp dụng vô trùng ngoại khoa trong chăm sóc… Biết
thực hiện và hiểu được tác dụng phụ của thuốc hồi sức. Biết đánh giá người bệnh
đủ tiêu chuẩn để chuyển người bệnh về khoa ngoại. Ngoài ra, người điều dưỡng
khoa hồi sức còn phải trang bị kiến thức trong giao tiếp với người bệnh. Ở khoa
hồi sức người bệnh thường hôn mê, được đặt nội khí quản, thở máy; người bệnh
không thể giao tiếp bằng lời nói mà chỉ bằng điệu bộ và chữ viết. Người điều
dưỡng tại khoa hồi sức vì thế rất cần trau dồi kiến thức về giao tiếp bằng cử
chỉ, điệu bộ, hiểu biết tâm lý người bệnh.
6. KẾT
LUẬN
Ngày nay, ngoại
khoa đã có những bước tiến ngày càng hoàn hảo hơn giúp người bệnh đau ít hơn,
thẩm mỹ hơn, ít mất máu hơn, ít nhiễm trùng hơn, tỷ lệ tử vong giảm... Đó chính
là sự nỗ lực không ngừng của ngành y học. Sự nỗ lực này thành công chính là nhờ
sự kết hợp hài hoà giữa phẫu thuật viên và điều dưỡng.
CÂU HỎI LƯỢNG
GIÁ
Trả lời đúng, sai các câu
sau bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp:
|
TT
|
Câu
hỏi
|
Đúng
|
Sai
|
|
4
|
Ngoại
khoa là 1 liên khoa.
|
|
|
|
5
|
Luôn
áp dụng vô trùng ngoại khoa ở phòng mổ.
|
|
|
|
6
|
Điều
dưỡng ngoại khoa ở phòng hồi sức phải luôn cập nhật kiến thức liên
tục.
|
|
|
|
7
|
Luôn
có sự bàn giao giữa phòng mổ và phòng hồi sức.
|
|
|
|
8
|
Bệnh
ngoại khoa chỉ là bệnh chấn thương.
|
|
|
|
9
|
Luôn
tránh lây chéo trong khoa ngoại.
|
|
|
|
10
|
Dinh
dưỡng được đánh giá chủ yếu trong sự hồi phục người bệnh.
|
|
|
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1.
Nguyễn Đình Hối, Bài giảng Ngoại khoa cơ sở, Triệu chứng học
ngoại khoa. Đại học Y Dược. TP. Hồ Chí Minh 2001, NXB Y học,
9–12.
2.
Kim Litwack, Preoperative patient, in Medical Surgical
Nursing, Mosby–Year book, Inc. 4th (1996), 349–385.
3. Hirschowitz
BI, Development and application of endoscopy,
Gastroenterology.
1993; 104:337–342
4.
Semm K, The history of endoscopy. In: Vitale GC, Sanfilippo
JS, Perissat J, eds. Laparoscopic surgery. Philadelphia: JB Lippincott Co, 1995:
3–11.
5.
Colon Cancer Laparoscopic or Open Resection Study group (COLOR) (2005) Lancet
Oncol 6 (7) 477–484.
6.
MRC Classic Trial Group (2005), Lancet 365: 1718–1726.
Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 12 07, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét