GIẢl PHẪU BỆNH
HỌC
Tùy theo bệnh tích, Ramađiê (Ramadiel) chia viêm xương đá ra làm
ba loại.
1 .Viêm phía trước.
Bệnh tích xuất phát từ hòm nhĩ và gây ra những ổ viêm sau đây
:
(hình ổ trên mê nhĩ trước (số I) : bệnh tích đi từ thành trong
của thượng nhĩ vào đỉnh xương đá dọc theo bờ sau trên của ống cảnh.
Ổ trước ốc lai (số II) : bệnh tích đi từ thành trước hòm nhĩ,
lan ra nhóm tế bào dưới vòi Ơxtasi.
Ổ dưới mê nhĩ trước (số III) : bệnh tích đi từ ngách hạ nhĩ
(récessus hypotympanique), luồn dưới mê nhĩ vào tận đỉnh xương đá.
2. Viêm phía sau.
Bệnh tích xuất phát từ vùng sào bào và gây ra những ổ viêm sau
đây : (hình 93).
Ổ xuyên mê nhĩ (số IV) : bệnh tích lan từ thành trong của sào
bào, xuyên qua nhóm tế bào trong của khối mê nhĩ và vào đến đỉnh xương đá.
Ổ trên mê nhĩ sau (số V) : bệnh tích xuất phát từ góc Xiteli
(Cilelli) tức là ở phía trên và trong của khuỷu thứ nhất của tĩnh mạch bên. Từ
đây quá trình viêm đi vào đỉnh xương đá dọc theo cạnh trên của xương này.
Ổ dưới mê nhĩ sau (số VI) : bệnh tích xuất phát từ nhóm tế bào
dưới sào bào sâu, lan về phía dưới mê nhĩ và thường dừng lại ở ngang tầm ống tai
trong.
3. Viêm đỉnh xương đá.
Đỉnh xương đá là phần ở trong cùng của xương đá, được ngăn cách
với thân xương đá với lỗ ống tai trong. Viêm đỉnh xương đá là hậu quả của viêm
các ổ tế bào xương đá mà chúng tôi vừa nói ở trên. Tuy vậy không phải tất cả các
trường hợp viêm xương đá đều đưa đến viêm đỉnh. Quá trình viêm thường tiêu hủy
mặt trước và mặt sau của đỉnh, chỉ để lại cảnh trên. Trong một số ít trường hợp
toàn bộ đỉnh xương đá tiêu hủy.
TRIỆU CHỨNG
Bệnh này không có triệu chứng lâm sàng đặc hiệu cho nên chúng ta
ít khi biết được bệnh bắt đầu lúc nào. Thường người ta chỉ nghĩ đến viêm xương
đá trong khi phẫu thuật (nhìn thấy bệnh tích ở xương đá) hoặc trong thời kỳ hậu
phẫu (bệnh biến diễn bất thường).
1. Triệu chứng chức
năng.
Triệu chứng chức năng xuất hiện sớm và có giá trị báo hiệu :
chảy mủ, đau, liệt dây thần kinh số VI.
A ) Chảy
mủ:
Bệnh nhân đã được mổ xương chũm trên vài tuần rồi nhưng mủ chảy
rất nhiều, làm ướt đẫm cả băng. Mủ có thể chảy ra ở vết mổ (viêm xương đá thể
biến diễn ống tai (viêm xương đá thể trước). Có khi mủ bớt đi một vài ngày rồi
chảy trở lại biến diễn không chừng.
B) Đau nhức
:
Đau là triệu chứng thường xuyên thấy.Bệnh nhân kêu đau nhiều ở
(lĩnh vực do dây thần kinh tạm thoa chi phối : đau trong ổ mắt, đau chung quanh
ổ mắt, đau vùng thái dương - đỉnh, đau răng, đau trán...
Có thể đau liên tục hoặc đau từng cơn, đau như búa bổ hoặc như
kìm kẹp, hoặc như lửa bỏng. Cơn đau thường hay tăng về đêm.
Ngoài ra chúng ta còn có thể thấy những triệu chứng phụ sau đây
: cảm giác căng phồng, vặn xoắn nhãn cầu kèm theo chảy nước mắt, sợ ánh sáng
C) Liệt dây thần kinh sọ
số VI :
Triệu chứng này không thường xuyên và không có giá trị bằng hai
triệu chứng trước. Nhưng nếu chúng ta thấy liệt dây
Vì cùng xuất hiện với hai triệu chứng trên thì đó là hội chứng
Gradenigô (chảy mủ tai, đau nhức đầu, lác về bên trong).
Hội chứng này nói lên rằng vùng đỉnh xương đá có bị thương tổn
nhưng không nhất thiết là do viêm đỉnh xương đá.
2. Triệu chứng thực thể.
Triệu chứng thực thể nghèo nàn. Chúng ta chỉ thấy những triệu
chứng này trên bàn mổ. Chúng ta dùng kính lúp và que trâm thăm dò thành trong
của hòm nhĩ, thành trong của sào hào, góc xiteli, ta có thể thấy lỗ rò hoặc
những ổ xưng mềm và sùi. Que trâm chui sâu vào xương đá qua những bệnh tích
này.
3. Triệu chứng tổng thể.
Toàn trạng của bệnh nhân sút. Nhiệt độ ở vào khoảng 37,5 0 -38 0
ít khi lên đến 40 0 . Nhưng bệnh nhân ăn kém, gầy xanh, mệt mỏi kéo dài.
4. Xét nghiệm.
A)
Máu: Bạch cầu trong máu tăng, bạch cầu đa nhân có
thể lên lO.OO hoặc 12.OOO.
B) Nước não tủy
: Nước não tủy bình thường lỏng. Khi thấy có sự phản
ứng trong nước lảo tủy, chúng ta phải nghĩ đến biến chứng (apxe ngoài màng
cứng).
C) Chụp X
quang : Chúng ta nên chụp cả ba tư thế
: Stãngve, Sôxê III và Hirtz. Ngoài la chụp lỗ rách sau còn cho chúng ta thấy
cạnh sau của xương đá ở vịnh cảnh. Phim sẽ phát hiện : đỉnh xương đá bị tiêu
hủy, cạnh trên xương đá bị khuyết, bờ của các tế bào trong xương đá bị xóa nhòa.
Những hình ảnh này rất có giá trị khi nó đi đôi với triệu chứng lâm sàng, nhưng
nếu riêng một mình nó không có giá trị, người ta gọi đó là viêm xương đá gỉa
hiệu.
D) Vi trùng gây bệnh
: Vi trùng gây bệnh thường là Streptôcôc tan huyết
hoặc pneumococcus mucosus (pnơmôcôc loại III).
BIẾN DIỄN -BIẾN
CHỨNG
Để tự nhiên viêm xương đá có thể tự khỏi được hoặc gây ra
apxe.
Bệnh có thể tự khỏi được vì mủ sẽ thoát ra dọc theo các tế bào
xương đá bị khoét rỗng một cách tự phát. Nếu mủ không thoát ra đằng tai được, nó
sẽ gây ra apxe. Trong thể viêm dưới mê nhĩ sau, apxe sẽ tiến về khoảng cách sau
trâm (khoảng cách dưới tuyến mang tai sau của Sébileau) gây ra apxe bên họng làm
cho thành họng ở sau trụ sau phồng lên. Bệnh nhân nuốt khó.
Trong thể viêm đỉnh xương đá, túi mủ có thể chọc thủng mặt dưới
hoặc mặt trên của nền sọ. Nên mủ tiến về phía dưới nó sẽ gây ra apxe chung quanh
vòi ơxtasi hoặc ở màn hầu, hoặc ở thành bên họng. Nếu mủ tiến về phía trên nó sẽ
gây ra apxe ngoài màng cứng, ăn thủng vảy (trai) thái dương hoặc vảy (trai) chẩm
và xuất ngoại dưới da. Trong một số ít trường hợp apxe ngoài màng cứng gây ra
viêm màng não và đưa đến tử vong.
Biến chứng viêm nghẽn tĩnh mạch xoang hang ít được gặp.
CÁC THỂ LÂM
SÀNG
1. Apxe đỉnh xương đá đóng
kín.
Không có sự thông thương của túi mủ với xương chũm hoặc hòm nhĩ,
mủ không chảy ra ngoài. Chẩn đoán dựa vào : đau đầu, sốt, liệt dây thần kinh số
VI. X quang cho chúng ta thấy bệnh tích ở đỉnh xương đá.
2. Cốt tủy viêm xương
đá.
Các triệu chứng toàn thân nặng : sốt cao kèm theo rét run, toát
mồ hôi, mệt lả, toàn trạng suy sụp giống như trong viêm nghẽn tĩnh mạch xoang
hang. X quang cho thấy hình ảnh xương đá gần như bình thường.
3. Thể viêm xương đá mặt
trước.
Bệnh tích đi từ thành trong của hòm nhĩ tiến về đỉnh xương đá
dọc theo mặt trước của xương này.
Trên lâm sàng, sau khi được mổ xương chũm rồi, bệnh nhân vẫn
nhức đầu và chảy nhiều mủ ở ống tai ngoài trong khi đó vết mổ chũm thành sẹo.
Cần phải khoét rỗng đá chũm và kiểm tra lại chung quanh ụ nhô (promontoire).
4. Thể viêm xương đá mặt
sau.
Xuất phát điểm thường ở mặt trong xương chũm (các nhóm tế bào
sâu) và bệnh tích hay khu trú chung quanh ống bán khuyên sau.
Sau khi mổ xương chũm rồi, triệu chứng nhức đầu không giảm, mủ
tiếp tục chảy ra nhiều ở vết mổ chũm, da không liền lại. Cần kiểm tra lại hố mổ,
nhất là ở mặt sau xương đá.
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán xác định trước khi mổ rất khó ; chúng ta dựa vào hội
chứng Gradenigo (nhức đầu, chảy mủ nhiều liệt dây thần kinh số VI) và X
quang.
Trong chẩn đoán phân loại chúng ta gạt ra các bệnh viêm nghẽn
tĩnh mạch: apxe ngoài màng cứng ổ viêm xương còn sót.
ĐIỀU
TRỊ
Chủ yếu là phẫu thuật. Nhưng tùy theo vị trí của ổ viêm, phương
pháp mổ có thay đổi.
1 .Viêm mặt trước xương
Chúng ta nên áp dụng phẫu thuật khoét rỗng đá chũm mở rộng bằng
cách xén xương nhĩ ở thành trước và thành dưới của ống tai ngoài.
Rồí dùng thìa nạo nhỏ nạo các tế bào chung quanh ụ nhô, nhất là
ở vùng trên mê nhĩ (trên dây thần kinh mặt).
2. Viêm mặt sau xương
đá.
Chúng ta bắt đầu bằng phẫu thuật khoét rỗng đã chũm thông
thường. Sau đó chúng ta nạo các ổ tế bào ở phía sau mê nhĩ : ổ xuyên mê nhĩ, ổ
trên mê nhĩ phía sau, ổ trên mê nhĩ phía trước. Trong khi nạo, không được làm vỡ
đoạn III cống F falôp và ống bán khuyên sau.
3. Viêm đỉnh xương đá.
Chúng ta làm phẫu thuật Ramadiê tức là vào đỉnh xương đá bằng
cách nạo khoét các tế bào dọc theo ống động mạch cảnh trong.
Sau khi phẫu thuật chúng ta phải tiêm hoặc uống kháng sinh.
CỐT TỦY VIÊM XƯƠNG
THÁI DƯƠNG DO TAI
Cốt tủy viêm xương thái dương do tai là một bệnh ít thấy. Thỉnh
thoảng chúng ta gặp một vài ca ở trẻ em. Bệnh có thể xuất hiện sau viêm tai cấp
tính hoặc viêm tai mạn tính hồi viêm. Bệnh tích xuất phát từ vảy trai thái dương
và có thể tràn lan đến các xương dẹt khác của sọ.
TRIỆU CHỨNG
Bệnh bắt đầu bằng đau nhiều chung quanh tai, kèm theo nhức nửa
bên đầu. Nhiệt độ lên cao. Ống lai ngoài bị phù nề. Vùng chung quanh tai sưng
đỏ, nóng Hiện tượng phù nề có thể lan rộng đến vùng thái dương, vùng chẩm và
vùng cổ. Ổ viêm sẽ ăn thủng vỏ xương và mủ sẽ đổ ra ngoài sọ (túi mủ dưới da
đầu) hoặc vào trong sọ (apxe ngoài màng cứng).
CÁC THỂ LÂM
SÀNG
1. Thể thậm cấp.
Bệnh bắt đầu đột ngột : sốt cao, rét run, nhiệt độ dao động.
Toàn trạng suy sụp nhanh chóng : mạch yếu, không đủ, nước tiểu ít, hô hấp nhanh
và nông, bộ mặt bị nhiễm độc. Vùng chung quanh lai bị sưng đỏ và đau. Màng nhĩ
bị hủy hoại nhanh chóng. Tai chảy mủ thối.
Tiên lượng rất xấu :điều trị không có kết quả.
2.Thể bán cấp
Nguyên nhân gây bệnh thường là vi trùng Pneumocus mucosus. Các
triệu chứng toàn thân không ồ ạt : sốt nhẹ, người mỏi mệt kéo dài...
Bệnh nhân nhức đầu. Vùng thái dương bị sưng và ấn đau. Đôi khi
có lỗ rò ở da đầu , mủ thối khẩn.
Tiên lượng tương đối tốt, nhưng nên đề phòng những đợt bộc phát
có thể đưa đến viêm màng não.
Trong khi chẩn đoán chúng ta có thể nhầm với viêm xương chũm thể
thái dương mỏm tiếp xuất ngoại hoặc với viêm xương đá.
X quang sẽ giúp chúng ta thấy vị trí của bệnh tích xương.
ĐIỀU TRỊ
1. Điều trị bằng thuốc :
Dùng các loại kháng sinh để chống viêm nhiễm ; nên sử dụng liều
lượng cao và chọn kháng sinh thích hợp (làm kháng sinh đo).
Trong trường hợp nặng nên tiêm kháng sinh nhỏ giọt vào mạch máu
(pênixilin. Hoặc têtraxylin).
2. Điều trị bằng phẫu
thuật?
Rạch túi mủ dưới da đầu và gặm hết vùng xương đen xạm.
-----------------------------------Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 11 27, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét