1. Đại
cương.
1.1. Định
nghĩa.
Viêm quanh khớp vai
(pericapsulitis shoulder) là bao gồm tất cả các trường hợp đau và hạn chế vận
động khớp vai do tổn thương phần mềm quanh khớp gồm: gân, cơ, dây chằng, bao
khớp, (không do tổn thương phần đầu xương, sụn khớp và màng hoạt dịch).
1.2. Đặc điểm giải
phẫu khớp vai.
- Có 5 khớp nhỏ tham gia vào
vận động khớp vai là:
+ Khớp vai chính: giữa chỏm
xương cánh tay và ổ chảo xương bả.
+ Khớp mỏm cùng cánh tay: gồm
cả túi thanh dịch dưới mỏm cùng xương bả và cơ delta.
+ Khớp mỏm cùng - xương
đòn.
+ Khớp ức đòn.
+ Bả vai - lồng ngực.
- Khớp xương và bao khớp là tổ
chức rất lỏng lẻo, vận động rộng rãi. Phía trên, phía trước và phía sau được
tăng cường bởi một số gân cơ tạo nên một bao dịch-gân-cơ:
+ Phía trước có gân cơ ngực
lớn và cơ nhị đầu cánh tay.
+ Phía trên có gân cơ trên
gai, gân cơ tam đầu cánh tay.
+ Phía sau có gân cơ dưới gai
và cơ tròn nhỏ.
- Khớp vai có liên quan nhiều
đến các rễ thần kinh vùng cổ và phần trên của lưng, liên quan đến các hạch giao
cảm cổ. Khi có tổn thương kích thích ở vùng đốt sống cổ, vùng trung thất, ở lồng
ngực đều có thể gây ra các triệu chứng ở khớp vai. Biểu hiện bằng: viêm gân,
viêm và co thắt bao khớp gây đau và hạn chế vận động khớp vai.
1.3. Nguyên
nhân.
Nguyên nhân gây viêm quanh
khớp vai rất phức tạp, đôi khi không rõ:
- Nguyên nhân tại chỗ: chấn
thương, vi chấn thương do nghề nghiệp, viêm gân, kéo giãn khớp vai quá mức, hoặc
vận động khớp vai nhanh mạnh đột ngột quá mức.
- Nguyên nhân xa: bệnh cột
sống cổ (hay gặp, nhất là thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ),
bệnh ở phổi, màng phổi, trung thất...
2. Triệu
chứng.
Có 3 thể lâm sàng:
2.1. Viêm quanh
khớp vai đơn thuần.
- Đau là triệu chứng chính:
đau ở mỏm cùng vai, mặt trước và mặt ngoài vai. Đau tăng khi vận động, nhất là
khi động tác dạng tay ra ngoài, giơ tay lên trên, và động tác gãi lưng (xoay
cánh tay ra trước vào trong).
- Khám tại chỗ không thấy sưng
nóng đỏ. Khi ấn vào mỏm cùng vai, mặt trước xương cánh tay, gân cơ nhị đầu trong
rãnh cơ nhị đầu cánh tay, gân cơ tam đầu cánh tay thấy đau. Khớp vai không hạn
chế vận động, nếu có thì thường nhẹ do phản ứng đau.
- Các xét nghiệm máu và sinh
hóa, X quang khớp vai không có gì đặc biệt.
- Diễn biến lành tính, đau
giảm dần rồi khỏi trong vài tuần, hay tái phát.
2.2. Viêm quanh
khớp vai thể đông cứng (frozen shoulder).
- Đau và hạn chế vận động khớp
vai do co cứng bao khớp, diễn biến qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn đau: đau khớp vai
đơn thuần, kéo dài vài tuần.
+ Giai đoạn nghẽn tắc: đau
giảm dần, nhưng hạn chế vận động tăng, các động tác đều hạn chế. Khám khớp thấy
gần như bình thường, nếu bệnh lâu ngày có thể thấy teo cơ nhẹ do giảm vận động,
nhất là nhóm cơ trên gai và cơ dưới gai. Giai đoạn tắc nghẽ kéo dài khá lâu từ
vài tháng đến hàng năm.
+ Giai đoạn hồi phục: hạn chế
vận động giảm dần rồi không để lại di chứng.
- X quang khớp vai không có gì
đặc biệt, chụp khớp vai có bơm thuốc cản quang hoặc bơm khí thấy bao khớp bị co
cứng, siêu âm khớp vai có thể thấy đứt hoặc rách dây chằng, bong điểm bám của
gân cơ nhưng ít gặp.
2.3. Hội chứng vai
- tay.
Bao gồm viêm quanh khớp vai
thể nghẽn tắc và rối loạn thần kinh vận mạch ở bàn tay.
- Đau và hạn chế vận động khớp
vai kiểu nghẽn tắc. Bàn tay biểu hiện rối loạn thần kinh vận mạch: phù bàn tay
lan lên một phần cẳng tay, phù cứng, màu đỏ tía hoặc tím, da lạnh. Đau nhức toàn
bộ bàn tay cả ngày và đêm. Móng tay mỏng, giòn, dễ gãy. Các cơ vùng bàn tay teo
rõ, vận động bàn tay, ngón tay hạn chế.
- X quang bàn tay thấy mất vôi
nặng toàn bộ khối xương cổ tay, bàn tay, ngón tay. Chụp X quang khớp vai thấy
bao khớp teo, co thắt.
- Diễn biến kéo dài 6 tháng
đến 2 năm, các triệu chứng giảm dần rồi khỏi, nhưng để lại di chứng teo cơ, giảm
trương lực cơ và hạn chế vận động bàn tay. Có khoảng 20% tái phát.
3. Điều
trị.
3.1. Điều trị nội
khoa.
- Sử dụng các thuốc nhóm
non-steroid, đường uống hay tiêm toàn thân.
- Phong bế tại chỗ hoặc hạch
giao cảm cổ, hạch sao để cắt phản xạ thần kinh.
- Phong
bế thần kinh trên gai.
- Tiêm
vào khớp vai hydrocortisol acetat.
- Tìm nguyên nhân để điều trị
nhất là các nguyên nhân xa.
3.2. Điều trị bằng
vật lý.
- Nhiệt nóng tại chỗ: paraffin
để chống đau mềm gân, sóng ngắn để chống viêm, siêu âm để chống dính cứng tắc
nghẽn.
- Điện di novocain, salicylat
để giảm đau chống viêm, INaIK để làm mềm khớp.
- Điện xung để giảm đau.
- Kéo nắn trị liệu: Là phương
pháp có hiệu quả tốt, nhất là với thể đông cứng tắc nghẽn. Khám xác định vùng
bao khớp co cứng nhiều, kỹ thuật viên vừa kéo giãn khớp vai vừa đẩy chỏm xương
cánh tay về cùng phía bao khớp co cứng với lực 7-10kg để làm giãn phần bao khớp
co cứng giải phóng tình trạng kẹt khớp. Chú ý khi kéo nắn, bệnh nhân phải không
đau mới đúng, nếu đau cần chuyển hướng kéo nắn cho thích hợp.
3.3. Vận động trị
liệu.
Tập vận động khớp vai là
phương pháp quan trọng, gồm tập chủ động, thụ động, tập có dụng cụ như dây ròng
rọc, thang tường, gậy, chuỳ.
3.3.1. Tập vận động thụ
động:
- Tư thế bệnh nhân nằm
ngửa:
+ Tập
gấp: KTV đứng sát mép giường bên phải bệnh nhân, tay trái giữ
cổ tay, tay phải đỡ khuỷu tay bệnh nhân, sau đó từ từ nhẹ nhàng đưa tay bệnh
nhân thẳng lên quá đầu, rồi lại từ từ đưa tay ngược lại về vị trí ban
đầu (Hình 6.27).
+ Tập dạng
khép: KTV dùng tay phải đỡ khuỷu tay bệnh nhân, để cẳng tay
bệnh nhân nằm trên cẳng tay của mình, tay trái giữ khớp vai bệnh nhân để không
cho khớp vai di chuyển lên phía tai bệnh nhân. KTV từ từ đưa cánh tay bệnh nhân
di chuyển ngang song song với mặt giường đến vị trí khớp vai 900. Sau
đó KTV chuyển tay trái đang giữ khớp vai đến nắm vào cổ tay bệnh nhân, tiếp tục
vận động tay lên phía đầu đến hết tầm vận động của khớp vai. Hết động tác, tiến
hành đưa tay bệnh nhân ngược về vị trí ban đầu (Hình
6.28).
+ Tập
xoay: đầu tiên KTV vận động khớp vai bệnh nhân dạng
900 như trên rồi đưa tay phải đang đỡ khớp khuỷu về nắm
cổ tay bệnh nhân, tay trái đang giữ khớp vai về đỡ dưới khuỷu tay bệnh nhân, sau
đó gập khớp khuỷu bệnh nhân đến 900. Tiến hành vận động cẳng tay bệnh
nhân đổ về phía đầu (xoay khớp vai ra ngoài) và đổ về phía chân bệnh nhân (xoay
khớp vai vào trong) trong khi khớp khuỷu và khớp vai vẫn ở tư thế
900 (Hình 6.29).
- Tư
thế bệnh nhân nằm sấp: tập động tác nâng và duỗi khớp
vai (Hình 6.30).
3.3.2. Tập vận động chủ
động và tập với dụng cụ.
- Tập chủ
động: bệnh nhân tự tập vận động khớp vai theo tầm vận động
của khớp gồm các động tác: đưa khớp vai ra trước lên trên, duỗi khớp vai ra sau,
dạng khớp vai ra ngang lên trên, khép khớp vai vào trong.
+ Tập động tác xoay ngoài ở tư
thế nằm: Bệnh nhân nằm ngửa, với 2 khớp khuỷu để sát thân, hai tay hướng lên
trên sau đó ngả ra ngoải để thực hiện động tác xoay ngoài của khớp vai. Động tác
có thể thực hiện ở các tư thế khớp vai khép ( vị trí 1), hay vị trí khớp vai
dạng ở các mức độ khác nhau (từ vị trí 2 đến 4) (Hình
6.31).
- Tập với
gậy:
+ Tập động
tác gấp: hai tay nắm lấy gậy ở phía trước bụng rồi từ từ đưa
gậy ra trước lên trên đến hết tầm (Hình 6.32).
+ Tập động
tác xoay ngang: như tập động tác gấp, nhưng chỉ đưa cánh tay
lên 900, rồi làm động tác đưa gậy sang bên tay bệnh (xoay ngang dạng)
và bên tay lành (xoay ngang khép) (Hình 6.33).
+ Tập động
tác dạng: tay bên bệnh để dọc thân và nắm lấy đầu dưới của
gậy, tay kia vòng ra sau gay nắm lấy đầu trên của gậy rồi kéo ấn đầu gậy trên
xuống sao cho thân gậy tỳ lên vai gáy như đòn bẩy và làm cho đầu gậy kia cùng
với cánh tay bệnh từ từ nâng lên đến 900 (Hình
6.35).
- Tập vận động với
thang tường:
+ Tập động tác
dạng: cũng làm như trên nhưng người quay ra bên để khớp vai
dạng.
+ Tập động tác xoay
ngang: bám tay vào bậc thang, thân người quay về phía thang
rồi làm động tác xoay dần thân người quay ra bên và ra trước.
- Tập với ròng
rọc: tập động tác gấp và dạng khớp vai. Thực hiện với một
ròng rọc treo ở trên cao, cánh tay bị bệnh đặt thụ động trên ròng rọc và được
nâng lên một cách thụ động bởi tay lành bên kia. Ròng rọc phải đặt ở vị trí sau
đầu để tay lành sẽ mở rộng góc hoạt động từng chút một của tay bị
bệnh (Hình 6.38).
Bài tập đung đưa chủ động được
Codman phát triển thêm để điều trị đau tắc nghẽn khớp vai: Tư thế như bài tập
đung đưa thụ động, nhưng ở đây cánh tay được cho phép vung chủ động trong các
bình diện, có thể được cầm một vật nặng trong tay và sức nặng cũng được phép
tăng dần nhằm kéo giãn khớp vai trong lúc vận động, để đảm bảo an toàn tốt nhất
nên sử dụng một cái can nhựa dung tích khoảng 10 lít có thể điều chỉnh trọng
lượng bằng cách thêm bớt thể tích nước trong can (Hình
6.39-b).
theo dieutridau.com
-----------------------------------Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 11 27, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét