I. ĐẠI
CƯƠNG.
1. Định
nghĩa.
Thoái hóa khớp có biểu hiện
lâm sàng bởi đau khớp và cột sống mạn tính, không có biểu hiện viêm. Tổn thương
cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm, những thay đổi
ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch. Nguyên nhân chính của bệnh là quá trình
lão hóa và tình trạng chịu áp lực quá tải và kéo dài của sụn khớp.
2. Tổn thương giải phẫu
bệnh.
- Bình thường sụn khớp và đĩa
đệm có màu trắng ánh xanh, nhẵn bóng, ướt, rất cứng và đàn hồi mạnh, thành phần
cấu tạo gồm các tế bào sụn, các sợi colagen và chất cơ bản. Các tế bào sụn ở
người trưởng thành có số lượng ít và không có khả năng sinh sản và tái tạo, có
nhiệm vụ là sinh tổng hợp các sợi colagen và chất cơ bản. Các sợi colagen là các
phân lớn acid amin có cấu tạo chuỗi dài tạo nên các sợi đan móc vào nhau thành
một mạng lưới dày đặc. Chất cơ bản có thành phần chủ yếu là mucopolysacarit gắn
với một protein và gọi là chondro-mucoprotein. Các sợi colagen và chất cơ bản có
đặc tính hút và giữ nước rất mạnh, có tác dụng điều chỉnh sự đàn hồi và chịu lực
của đĩa đệm và sụn khớp.
- Khi bị thoái hóa, đĩa đệm và
sụn khớp có màu vàng nhạt, mờ đục, khô, mềm, mất tính đàn hồi, mỏng và nứt rạn,
có thể xuất hiện các vết loét, tổ chức sụn mất đi để lại cả phần xương dưới sụn,
nhân của đĩa đệm mất tính căng phòng và trở nên mềm xẹp. Về mặt vi thể thấy tế
bào sụn thưa thớt, các sợi colagen gẫy đứt nhiều chỗ, cấu trúc lộn xộn; chất cơ
bản của sụn mất dần thành phần chondromuco protein. Sụn và đĩa đệm sau bị teo,
nứt do đó trên X quang thấy khe khớp và khoang gian đốt hẹp.
- Phần xương dưới sụn: xương
dày lên do các bè xương tăng sinh, một số bè bị gẫy và khuyết tạo nên các hốc
chứa khớp ngấm từ khớp vào. ở chỗ tiếp giáp giữa bao khớp và ngoại cốt, giữa
màng hoạt dịch và sụn khớp có hiện tượng cốt hóa mọc thêm xương tạo nên các gai
xương, mỏ xương. Nếu gai xương mọc ở gần lỗ ghép có thể chèn ép vào rễ thần
kinh.
- Màng hoạt dịch: thay đổi
muộn và chậm với biểu hiện xơ hóa, xung huyết và thâm nhập limpho bào từng chỗ,
lâu dần toàn bộ màng hoạt dịch bị xơ hóa và xung huyết. Có thể có biểu hiện tăng
tiết dịch khớp nhưng không bao giờ có biểu hiện viêm.
3. Nguyên nhân và cơ chế
bệnh sinh.
3.1. Sự lão hóa:
ở người trưởng thành các tế
bào sụn không có khả năng sinh sản và tái tạo, mặt khác khi người ta già đi,
cùng với sự lão hóa của cơ thể, các tế bào sụn cũng dần dần giảm chức năng tổng
hợp chất tạo nên sợi colagen và mucopolysacarit, làm cho chất lượng sụn kém dần
nhất là tính đàn hồi và chịu lực.
3.2. Yếu tố cơ
giới:
Là yếu tố quan trọng thúc đẩy
nhanh quá trình thoái hóa nhất là thể thoái hóa thứ phát, thể hiện bằng sự tăng
bất thường lực nén trên một đơn vị diện tích của mặt khớp và đĩa đệm, còn được
gọi là hiện tượng quá tải, bao gồm:
- Các dị dạng bẩm sinh làm
thay đổi diện tỳ nén bình thường của khớp và cột sống.
- Các biến dạng thứ phát sau
chấn thương, u, loạn sản, làm thay đổi mối tương quan, hình thái của khớp và cột
sống.
- Sự tăng tải trọng do tăng
cân quá mức như béo phì, tăng tải trọng do nghề nghiệp...
3.3. Các yếu tố
khác.
- Di truyền: cơ địa già
sớm.
- Nội tiết: tuổi mãn kinh, đái
tháo đường, loãng xương do nội tiết.
- Chuyển hóa: bệnh gout, bệnh
da sạm màu nâu.
4. Các thể thoái hóa
khớp.
Theo nguyên nhân người ta chia
thành 2 thể:
- Nguyên
phát: nguyên nhân chính là do lão hóa, thương xuất hiện muộn ở
người cao tuổi, thoái hóa ở nhiều vị trí, tiến triển chậm, tăng dần theo tuổi,
mức độ không nặng.
- Thứ
phát: do nguyên nhân cơ học, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, khu
trú ở một vài vị trí, bệnh nặng và tiến triển nhanh.
5. Các giai đoạn của thoái
hóa khớp.
- Giai đoạn
tiền lâm sàng: Mặc dù có tổn thương thoái hóa về mặt sinh hóa
và giải phẫu bệnh nhưng bệnh nhân chưa có biểu hiện lâm sàng mà có thể được phát
hiện thông qua chụp X quang.
- Giai đoạn lâm
sàng: bệnh nhân có biểu hiện đau, hạn chế vận động, trên X
quang đã xuất hiện rõ tổn thương.
6. Dịch
tễ học.
Thoái hóa khớp là một bệnh gặp
khá phổ biến. Vị trí của thoái hóa khớp theo thứ tự là:
- Thoái hóa cột sống thắt
lưng: 31%
- Thoái hóa cột sống cổ:
14%
- Thoái hóa khớp gối: 13%
- Thoái hóa khớp háng: 8%
- Thoái hóa khớp ngón tay:
6%
- Các khớp khác: 20%.
II. TRIỆU CHỨNG CHUNG
CỦA THOÁI HÓA KHỚP.
1. Lâm sàng.
1.1. Triệu chứng
đau.
Đau theo
kiểu cơ giới, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ
ngơi.
- Vị trí: thường đau đối xứng
hai bên, đau khu trú ở khớp hay đoạn cột sống bị thoái hóa ít lan xa, trừ khi có
chèn ép vào rễ dây thần kinh.
- Tính chất: đau âm ỉ, có khi
thành cơn đau cấp sau khi vận động ở tư thế bất lợi, đau nhiều về buổi chiều,
giảm đau về đêm và sáng sớm.
- Đau diễn biến thành từng
đợt, có khi diễn biến đau liên tục tăng dần.
- Đau không kèm theo các biểu
hiện viêm.
1.2. Hạn chế vận
động.
Các khớp và cột sống bị thoái
hóa sẽ bị hạn chế vận động một phần, có khi hạn chế nhiều do phản xạ co cứng cơ
kèm theo. Bệnh nhân có thể không làm được một số động tác như không quay được
cổ, không cúi được sát đất, một số bệnh nhân có dấu hiệu phá gỉ
khớp.
1.3. Biến dạng
khớp.
Thường không biến dạng nhiều
như trong các bệnh khớp khác, biến dạng trong khớp do mọc gai xương, do lệch
trục khớp hoặc thoát vị màng hoạt dịch.
1.4. Các dấu hiệu
khác.
- Toàn thân: không có biểu
hiện gì đặc biệt.
- Teo cơ: do đau dẫn đến ít
vận động.
- Tiếng lạo xạo khi vận động:
ít có giá trị chẩn đoán.
- Tràn dịch khớp: đôi khi thấy
ở khớp gối.
2. Cận lâm
sàng.
2.1. Dấu hiệu X
quang.
Có 3 dấu hiệu cơ bản:
- Hẹp khe khớp: hẹp không đồng
đều, bờ không đều, biểu hiện bằng chiều cao của khoang gian đốt giảm, nhưng
không bao giờ dính khớp.
- Đặc xương dưới sụn: phần đầu
xương, hõm khớp, mâm đốt sống có hình đậm đặc, trong phần xương đặc có thể thấy
một số hốc nhỏ.
- Gai xương: thường mọc ở rìa
ngoài thân đốt, gai xương có thể tạo thành các cầu xương, khớp tân tạo. Có khi
gai xương có một số mảnh rơi vào ở khớp hoặc phần mềm quanh khớp.
2.2. Các xét nghiệm
khác.
- Các xét nghiệm máu và sinh
hóa không có gì thay đổi.
- Dịch khớp: màu vàng chanh,
độ nhớt bình thường, không có tế bào hình nho, phản ứng tìm yếu tố thấp âm
tính.
- Nội soi khớp: thấy tổn
thương thoái hóa của sụn khớp, phát hiện các mảnh gai xương rơi vào ổ khớp, kết
hợp sinh thiết màng hoạt dịch để chẩn đoán phân biệt.
- Sinh thiết màng hoạt dịch:
thường để chẩn đoán phân biệt khi dấu hiệu X quang không rõ ràng.
III. THOÁI HÓA CÁC
KHỚP NGOẠI VI.
1. Thoái hóa khớp
gối.
1.1. Triệu chứng lâm
sàng.
- Đau ở mặt trước hoặc trong
khớp gối, đau tăng khi đi lại, lên xuống dốc, ngồi xổm. Có thể có dấu
hiệu phá gỉ
khớp khi khởi động thường đau cả hai bên gối.
- Hạn chế vận động không đi bộ
được lâu vì đau, có tiếng lạo xạo trong khớp, có thể hạn chế nhiều phải chống
gậy.
- Sưng khớp do các gai xương
và phì đại mỡ quanh khớp. Có thể có tràn dịch khớp nhưng không bao giờ có biểu
hiện viêm.
- Có các điểm đau ở khe khớp
bánh chè - ròng rọc, chày - ròng rọc. Gõ vào bánh chè đau. Dấu hiệu bào gỗ (di
động bánh chè trên ròng rọc kiểu như bào gỗ thấy tiếng lạo xạo). Giai đoạn muộn
có thể xuất hiện teo các cơ ở đùi.
1.2. X quang.
Các dấu hiện X quang thấy trên
khớp chày ròng rọc (thẳng) và bánh chè ròng rọc (nghiêng). Thấy các dấu hiệu:
hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương và hình ảnh dị vật trong
khớp.
1.3. Nguyên nhân.
Phần lớn hư khớp gối là thứ
phát, do các nguyên nhân sau:
- Các dị tật của trục khớp
gối: khớp gối quay ra ngoài, quay vào trong, khớp gối quá duỗi.
- Các di chứng của bệnh khớp
gối: như di chứng chấn thương, viêm, chảy máu trong khớp.
2. Thoái hóa khớp
háng.
2.1. Triệu chứng lâm
sàng.
- Đau ở vùng bẹn hoặc vùng
trên mông, lan xuống đùi, có khi chỉ đau ở mặt trước đùi và khớp gối. Đau xuất
hiện từ từ tăng dần, đau tăng khi đi lại, đứng lâu, thay đổi thời tiết, giảm đau
khi nghỉ ngơi. Có thể có dấu hiệu phá gỉ khớp khi khởi động.
- Hạn chế vận động, lúc đầu
khó làm một số động tác như ngồi xổm, lên xe đạp nam, bước qua bậc cao, sau hạn
chế nhiều, phải chống gậy.
- Khám ít thấy thay đổi vì
khớp ở sâu, không thấy biểu hiện viêm.
2.2. X quang.
- Hẹp khe khớp: thường hẹp ở
phần ngoài.
- Đặc xương dưới sụn: ở chỏm
xương đùi, ổ cối xương chậu, lỗ dây chằng tròn… thường thấy các hốc xương, có
khi hốc xương to thông với ổ khớp.
- Mọc gai xương: ở nhiều vị
trí trên ổ cối, chỏm xương, lỗ dây chằng tròn.
2.3. Nguyên nhân.
Thoái hóa khớp háng thứ phát
thường chiếm 50% trường hợp, do các nguyên nhân sau:
- Các cấu tạo bất thường của
khớp háng và chi dưới: trật khớp háng bẩm sinh, chỏm khớp dẹt, ổ cối sâu.
-
Di chứng các bệnh khớp háng: chấn thương, vi chấn thương, viêm (lao, thấp, vi
khuẩn), các bệnh máu, chuyển hóa, nội tiết, hoại tử vô khuẩn chỏm xương
đùi...
IV. ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA
KHỚP.
1. Nội khoa.
- Thuốc chống viêm giảm
đau: paracetamon, aspirin, voltaren, mobic, celebrex...
- Thuốc giãn cơ:
dùng các thuốc giãn cơ khi cơ co cứng do phản
xạ: Mydocalm, Myonal, Decontractyl...
- Không
dùng corticoid toàn thân, có thể tiêm
hydrocortison acetat vào khớp nếu đau và sưng nhiều, tuy nhiên cần
hạn chế không nên tiêm nhiều lần.
- Thuốc tăng cường dinh dưỡng
sụn:
+ Glucosamin 250mg
ngày 2 lần mỗi lần 2 viên.
+ Các thuốc khác: nội tiết tố
sinh dục, thuốc tăng đồng hóa, filatov, cao xương động vật, tinh chất sụn động
vật...
- Tiêm acid
hyaluronic vào khớp: trong dịch khớp thoái hóa, nồng độ acid
hyaluronic nhỏ hơn bình thường (0,8-2mg/ml so với bình thường là 2,5-3,5mg/ml).
Trọng lượng phân tử của acid hyaluronic trong dịch khớp thoái hóa cũng thấp hơn
(0,4-4 Mega Dalton so với bình thường là 4-5 Mega Dalton). Bổ sung acid
hyaluronic có trọng lượng phân tử cao vào ổ khớp thoái hóa sẽ tạo ra được một
“độ nhớt bổ sung” thực sự:
Chế phẩm: Hyalgan 10mg,
Ostenil 10mg, Hyruan có đột nhớt tuyệt đối 295-300 centipoise, tiêm 5 mũi vào
trong khớp trong một liệu trình điều trị.
Các thuốc mới: Orthto Visc
15mg, Synvisc 8mg có độ nhớt tuyệt đối cao 55000-56000 centipoise tiêm 3 mũi mỗi
mũi 1 ống cách nhau 1 tuần. Hiệu quả kéo dài ít nhất 12 tháng.
2. Các phương pháp vật
lý trị liệu.
- Bất động tương đối với khớp
viêm thoái hóa đợt cấp.
- Xoa bóp, bấm
huyệt quanh khớp, châm cứu.
- Điều trị bằng
nhiệt: paraffin, hồng ngoại, sóng ngắn,
túi chườm...
- Điều trị bằng
điện: điện xung, điện châm, điện di
thuốc giảm đau.
- Điều trị
bằng siêu âm liên tục hoặc chế độ xung vào khớp.
- Tử
ngoại liều đỏ da (4-5 liều sinh học) cách ngày, 3-4 lần, diện tích
chiếu dưới 300cm2.
- Điện
di ion thuốc Novocain, Salicylat để giảm đau chống viêm.
- Chế độ vận
động: hạn chế tải trọng lên khớp, không nên đi bộ nhiều, không đứng lâu, giảm
cân nặng cơ thể; nên tập luyện các môn thể thao không gây gánh nặng cho khớp như
đạp xe, bơi lặn, xà đơn xà kép…
3. Điều trị ngoại
khoa.
- Chỉnh lại các dị dạng
khớp.
- Đóng cứng khớp ở tư thế chức
năng.
- Thay khớp nhân tạo.
-----------------------------------Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 11 27, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét