I. ĐẠI
CƯƠNG.
1. Định
nghĩa.
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là
một bệnh viêm không đặc hiêu xảy ra ở các khớp gây tổn thương màng hoạt dịch,
sụn khớp và đầu xương dưới sụn, diễn biến mạn tính dẫn đến tình trạng dính và
biến dạng khớp.
2. Nguyên
nhân.
VKDT là một bệnh gặp rất phổ
biến, nhưng nguyên nhân của bệnh vẫn còn chưa được hiểu biết đầy đủ. Gần đây
người ta cho rằng VKDT là một bệnh tự miễn, với sự tham gia của các yếu tố
sau:
- Tác nhân gây bệnh: có thể là
virus, vi khuẩn, dị nguyên nhưng chưa được xác định chắc chắn.
- Yếu tố cơ địa: bệnh có liên
quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người
trên 30 tuổi).
- Yếu tố di truyền: VKDT có
tính gia đình, có liên quan với kháng nguyên hóa hợp tổ chức HLA
DR4 (gặp 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ
này ở cộng đồng chỉ là 30%).
- Các yếu tố thuận lợi khác:
môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt
mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật.
Bệnh VKDT là bệnh mang tính xã
hội vì tỷ lệ mắc bệnh cao, bệnh diễn biến kéo dài, hậu quả dẫn đến tàn phế.
3. Cơ chế bệnh
sinh.
Tác nhân gây bệnh tác động vào
cơ thể có yếu tố cơ địa dễ tiếp nhận bệnh. Cơ thể sinh ra kháng thể (IgG) chống
lại tác nhân gây bệnh. Sau đó bản thân kháng thể này lại trở thành tác nhân gây
bệnh mới, kích thích cơ thể sinh ra kháng thể khác chống lại nó gọi là tự kháng
thể (yếu tố dạng thấp). Kháng thể ban đầu và tự kháng thể với sự có mặt của bổ
thể kết hợp thành phức hợp kháng nguyên - kháng thể (phức hợp miễn dịch) trong
dịch khớp. Các bạch cầu đa nhân và đại thực bào đến để thực bào phức hợp miễn
dịch này, đến lượt các tế bào này bị hủy hoại bởi chính các men tiêu thể mà
chúng giải phóng ra để tiêu phức hợp miễn dịch. Sự phá hủy của các đại thực bào
và bạch cầu đa nhân giải phóng các men tiêu thể và các chất trung gian gây viêm
(mediator viêm). Các chất này gây hủy hoại màng hoạt dịch khớp và thu hút các
bạch cầu và đại thực bào mới từ các nơi khác đến làm cho quá trình viêm không
đặc hiệu kéo dài không dứt, mặc dù tác nhân gây viêm ban đầu không còn phát huy
tác dụng.
4. Giải phẫu
bệnh.
Hình ảnh tổn thương giải phẫu
bệnh của khớp tùy thuộc vào mức độ tiến triển của bệnh mà có biểu hiện khác
nhau:
- Đại thể: giai đoạn đầu chỉ
sưng và nề phần mềm về sau biến dạng và lệch trục khớp. Khớp cổ tay có hình bướu
lạc đà, khớp ngón tay ngón chân có hình thoi.
- Vi thể:
+ Màng hoạt dịch khớp: ở giai
đoạn đầu thấy phù nề xung huyết, xâm nhập nhiều tế bào viêm chủ yếu là bạch cầu
N. Giai đoạn sau thấy các tế bào hình lông (nhung mao) của màng hoạt dịch tăng
sinh, đồng thời tăng sinh cả lớp liên bào phủ của tế bào hình lông. ở tổ chức
đệm của màng hoạt dịch thấy tăng sinh các mạch máu tân tạo. Xâm nhập nhiều tế
bào viêm chủ yếu là lymphocyte và plasmocyte quanh các mạch máu. Xuất hiện các ổ
hoại tử dạng tơ huyết trong tổ chức đệm. Giai đoạn muộn màng hoạt dịch bị xơ hóa
và vôi hóa làm cho khớp bị dính và biến dạng.
+ Sụn khớp: sụn khớp biến
thành màu vàng đục, mỏng, về sau xuất hiện các chỗ loét. Giai đoạn muộn bị xơ
hóa và dính.
+ Phần xương dưới sụn ở đầu
khớp: giai đoạn đầu thấy xuất hiện hiện tượng loãng xương. Các bè xương thưa, về
sau xuất hiện các ổ khuyết xương, cuối cùng xơ hóa và dính hai đầu xương.
+ Dịch khớp: lỏng, giảm độ
nhớt, có màu vàng nhạt. Lượng tế bào tăng nf, chủ yếu là bạch cầu N. Còn thấy
xuất hiện những bạch cầu N trong bào tương có nhiều hạt nhỏ giống như hình quả
nho, được gọi là tế bào hình nho (ragocyte). Đó là các tế bào đã thực bào các
phức hợp miễn dịch. Khi số lượng tế bào hình nho trên 10% số lượng tế bào trong
dịch khớp thì có giá trị chẩn đoán VKDT.
II. TRIỆU
CHỨNG
1. Triệu chứng tại
khớp.
1.1. Giai đoạn
khởi phát.
Bệnh thường khởi phát từ từ,
tăng dần, chỉ khoảng 10-15% bệnh bắt đầu đột ngột và cấp tính. Trước khi có
triệu chứng của khớp, bệnh nhân có thể có biểu hiện như sốt nhẹ, mệt mỏi, gầy
sút, ra nhiều mồ hôi, tê các đầu chi. 65% bắt đầu chỉ viêm 1 khớp, 35% khởi đầu
bằng viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, 30% khởi đầu bằng viêm khớp gối, còn lại là
các khớp khác. Các khớp viêm sưng đau rõ nhưng ít đỏ và ít nóng, dấu hiệu cứng
khớp buổi sáng thường gặp ở 20% trường hợp, đau nhiều về nửa đêm gần sáng và khi
vận động. Giai đoạn này kéo dài vài tuần đến vài tháng rồi chuyển sang giai đoạn
toàn phát.
1.2. Giai đoạn
toàn phát.
- Vị trí khớp viêm: thường
xuất hiện viêm đau nhiều khớp (nên còn gọi là bệnh viêm đa khớp dạng thấp).
Trong đó hay gặp nhất là các khớp cổ tay (90%), khớp ngón gần bàn tay (80%),
khớp bàn ngón (70%), khớp gối (90%), khớp cổ chân (70%), khớp ngón chân (60%),
khớp khuỷu (60%). Các khớp ít gặp như: khớp háng, cột sống, khớp
vai, khớp ức đòn, nếu có viêm các khớp này cũng thường là ở giai đoạn muộn.
- Tính chất viêm: Đa số viêm
khớp có tính chất đối xứng (95%), ở bàn tay và bàn chân thường sưng phần mu hơn
phần gan. Sưng đau và hạn chế vận động, ít có nóng đỏ, có thể có nước trong khớp
gối. Đau nhiều về đêm gần sáng, có dấu hiệu phá gỉ khớp buổi sáng (90%).
- Các dấu hiệu biến chứng:
bệnh tiến triển từng đợt nặng dần, dần dần xuất hiện tình trạng dính và biến
dạng khớp như: ngón tay hình thoi, cổ tay hình lưng lạc đà, bàn tay ở tư thế nửa
co và lệch trục về phía xương trụ gọi là bàn tay gió thổi, ngón tay hình cổ cò, khớp
gối dính ở tư thế hơi gấp.
2. Triệu chứng ngoài
khớp.
- Toàn thân: Gầy sút, mệt mỏi,
kém ăn, ra nhiều mồ hôi do rối loạn thần kinh thực vật, da xanh nhẹ do thiếu
máu.
- Tổn thương da:
+ Hạt dưới da: được coi là một
dấu hiệu đặc hiệu, (ở Việt nam chỉ gặp 5% số bệnh nhân). Các hạt nổi gờ trên mặt
da, kích thước khoảng 5-20mm, cứng và dính vào nền xương, không đau, không có lỗ
dò. Hay gặp ở đầu trên xương trụ gần khớp khuỷu, đầu trên xương chày gần gối,
hoặc quanh các khớp khác.
+ Da khô nhất là các chi, lòng
bàn tay bàn chân thường đỏ hồng do gãn mạch. Có thể phù một đoạn chi nhất là chi
dưới do rối loạn dinh dưỡng và vận mạch.
- Cơ, gân, dây chằng, bao
khớp: Teo cơ quanh các khớp viêm như cơ liên đốt và cơ giun bàn tay, dây chằng
khớp thường bị viêm co kéo. Một số ít trường hợp dây chằng bị giãn gây lỏng
khớp. Bao khớp có thể phình ra thành các kén hoạt dịch.
- Tổn thương cơ quan, nội
tạng: rất hiếm gặp. Tim có thể bị viêm cơ tim nhưng biểu hiện kín đáo. Có thể
viêm màng ngoài tim, rối loạn dẫn truyền. Hầu như không gặp tổn thương màng
trong tim và van tim. Có thể gặp viêm màng phổi nhẹ. Viêm mống mắt thể mi, viêm
giác mạc. Viêm và xơ các dây thần kinh quanh khớp, chèn ép thần kinh ngoại
vi...
3. Cận lâm
sàng.
3.1. Xét nghiệm
chung.
Hồng cầu giảm nhẹ, tốc độ máu
lắng tăng. Điện di protein thấy: albumin giảm, globulin tăng, protein C có thể
dương tính.
3.2. Các xét
nghiệm miễn dịch.
- Phản ứng Waaler Rose và Gama
latex (Hình 6.22): là xét nghiệm phát hiện
yếu tố
dạng thấp (tự
kháng thể) trong huyết thanh máu bệnh nhân, chủ yếu đó là một IgM có khả năng
ngưng kết với globulin (IgG). Nếu dùng hồng cầu người hoặc cừu thì gọi là phản
ứng Waaler Rose, phản ứng (+) khi ngưng kết ở độ pha loãng huyết thanh nhỏ hơn
1/16. Nếu dùng hạt nhựa latex thì gọi là phản ứng Gama latex, phản ứng (+) khi
ngưng kết ở độ pha loãng huyết thanh nhỏ hơn 1/32. Các phản ứng này thường (+)
muộn sau khi mắc bệnh một năm, với tỷ lệ khoảng 70-80% số bệnh nhân. Mức độ (+)
không liên quan với mức độ bệnh.
- Tế bào Hargraves: là các
bạch cầu đa nhân thực bào các mảnh nhân của những tế bào bị phá hủy do yếu tố
kháng nhân lưu hành trong máu bệnh nhân, gặp khoảng 5-10%. Ngoài ra còn có thể
thấy kháng thể kháng nhân, kháng thể kháng acid nhân trong máu bệnh nhân, nhưng
tỷ lệ (+) thấp không có ý nghĩa chẩn đoán.
3.3. Dịch
khớp.
Bình thường dịch khớp trong,
không màu, nhớt như lòng trắng trứng, số lượng 3-5ml, lượng tế bào 500/ml, đa số
là bạch cầu đơn nhân và tế bào màng hoạt dịch. Lượng albumin khoảng 2g/dl, mucin
(acid hyaluronic) 800mg/dl.
- Dịch khớp lỏng, giảm độ
nhớt, có màu vàng nhạt. Lượng mucin giảm rõ (test mucin+++): Ly tâm dịch khớp
rồi lấy 1ml ở trên cùng, thêm 4ml nước cất lắc đều, thêm 0,13ml acid acetic 7N.
Bình thường mucin tủa thành đám to xù xì, nước trong. Nếu thấy kết tủa nhỏ,
nhẵn, mềm, nước đục là viêm nhẹ; kết tủa nhỏ, nhiều, lắc tan, nước đục là viêm
vừa; nếu kết tủa rất nhỏ, nước đục là viêm nặng).
- Lượng tế bào tăng nhiều, chủ
yếu là bạch cầu N. Có thể thấy tế bào hình nho, khi số lượng tế baog hình nho
trên 10% thì có giá trị chẩn đoán.
- Lượng bổ thể trong dịch khớp
giảm so với huyết thanh.
- Phản ứng Waaler Rose và gama
latex làm từ dịch khớp (+) sớm hơn cà cao hơn so với làm từ huyết thanh.
3.4. Sinh
thiết.
- Màng hoạt dịch: có biểu hiện 5 tổn
thương:
+ Tăng sinh các hình lông.
+ Tăng sinh lớp tế bào phủ
hình lông.
+ Tăng sinh nhiều mạch máu tân
tạo ở tổ chức đệm.
+ Xuất hiện những đám hoại tử
giống như tơ huyết.
+ Xâm nhập nhiều tế bào viêm
quanh các mạch máu, chủ yếu là lympho bào và plasmocyte.
Khi có từ 3 tổn thương trở lên
thì có thể chẩn đoán VKDT.
- Hạt dưới da: Trung
tâm là đám hoại tử dạng tơ huyết. Xung quanh bao bọc bởi nhiều tế bào viêm mạn
(lyphocyte, plasmocyte).
3.5. X
quang.
- Hình ảnh chung: giai đoạn
đầu thấy mất vôi ở đầu xương và cản quang ở phần mềm quanh khớp. Sau một thời
gian thấy hẹp khe khớp, hình khuyết xương nhỏ ở đầu xương giữa phần tiếp giáp
của phần sụn và đầu xương. Giai đoạn muộn thấy dính 2 đầu xương và biến dạng
khớp.
- X quang xương bàn tay: Cần
chụp hai bàn tay và khối xương cổ tay. Thấy tổn thương xuất hiện sớmvà đặc hiệu.
Khe khớp vùng cổ tay hẹp và mờ, về sau dính thành một khối. Đầu xương bàn tay và
ngón tay xuất hiện các hình khuyết, lệch trục, hẹp khe khớp và dính khớp. Không
thấy tổn thương ở ngón xa.
4. Tiến
triển.
Bệnh mạn tính kéo dài hàng
năm, 75% tiến triển dần dần, chỉ 25% tiến triển thành từng đợt, có những giai
đoạn lui bệnh rõ. Các đợt tiến triển nặng lên khi nhiễm khuẩn, nhiễm lạnh, chấn
thương, phẫu thuật. Rất hiếm khi bệnh lui dần đến khỏi hẳn.
Dựa vào chức năng vận động và
tổn thương X quang, Steinbroker chia tiến triển của bệnh thành 4 giai
đoạn (Hình 6.25):
5. Thể lâm
sàng.
5.1. Thể theo
triệu chứng.
- Thể một khớp: hay gặp ở khớp
gối, thường chẩn đoán khó.
- Thể có lách to: Hội chứng
Felty, bệnh nhân có lách to, bạch cầu giảm, đôi khi có gan to, nổi hạch và sạm
da.
- Thể có hội chứng Sjogrens
Gougerot: VKDT có kèm theo viêm teo tuyến nước bọt và tuyến nước mắt, còn gọi là
hội chứng khô mắt và miệng.
-Thể xuất hiện sau bệnh bụi
phổi (hội chứng Caplan): thường là nhiễm bụi phổi than và silic.
5.2. Thể theo tiến
triển.
- Thể lành tính: tiến triển
chậm, số lượng khớp ít.
- Thể nặng: nhiều khớp, có
sốt, có biểu hiện nội tạng, tiến triển nhanh và liên tục.
- Thể ác tính: sốt cao, tràn
dịch khớp, tiến triển rất nhanh dẫn đến dính và biến dạng khớp.
5.3. Thể theo cơ địa.
- Thể ở nam giới: thường nhẹ
và không điển hình.
- Thể ở người già: mắc bệnh
sau 60 tuổi, bệnh nhẹ, dễ nhầm với thoái hóa khớp.
- Thể có phản ứng Waaler Rose
(-): bệnh nặng và khó điều trị.
III. CHẨN
ĐOÁN.
1. Chẩn đoán xác
định.
1.1. Tiêu chuẩn
của hội thấp khớp Mỹ ARA - 1958.
Gồm 11 tiêu chuẩn, trong đó có
6 tiêu chuẩn lâm sàng và 5 tiêu chuẩn cận lâm sàng:
1/ Có cứng khớp buổi sáng.
2/ Đau khi khám hoặc khi vận
động từ 1 khớp trở lên.
3/ Sưng tối thiểu 1 khớp trở
lên.
4/ Sưng nhiều khớp thì khớp
sưng sau cách khớp sưng trước dưới 3 tháng.
5/ Sưng khớp có tính chất đối
xứng 2 bên.
6/ Có hạt dưới da.
7/ X quang có khuyết đầu
xương, hẹp khe khớp.
8/ Phản ứng Waaler Rose hoặc
gama latex (+) ít nhất 2 lần.
9/ Lượng mucin trong dịch khớp
giảm rõ.
10/ Sinh thiết hạt dưới da
thấy tổn thương điển hình.
11/ Sinh thiết màng hoạt dịch
thấy 3 tổn thương trở lên.
Chẩn đoán chắc chắn khi có 7
tiểu chuẩn trở lên và thời gian bị bệnh trên 6 tuần. Chẩn đoán xác định khi có 5
tiểu chuẩn trở lên và thời gian bị bệnh trên 6 tuần. Chẩn đoán nghi ngờ khi có 4
tiểu chuẩn và thời gian bị bệnh 4 tuần.
1.2. Tiêu chuẩn
ARA - 1987.
Có 7 tiêu chuẩn:
1/ Cứng khớp buổi sáng kéo dài
trên 1 giờ.
2/ Sưng đau kéo dài tối thiểu
3 khớp trong số 14 khớp sau: ngón tay gần (2), bàn ngón (2), cổ tay (2), khuỷu
(2), gối (2), cổ chân (2), bàn ngón chân (2).
3/ Sưng đau 1 trong 3 vị trí:
khớp ngón tay gần, khớp bàn ngón, khớp cổ tay.
4/ Sưng khớp đối xứng.
5/ Có hạt dưới da.
6/ Phản ứng tìm yếu tố dạng
thấp (+).
7/ Hình ảnh X quang điển
hình.
Chẩn đoán xác định khi có 4
tiêu chuẩn trở lên.
1.3. Trong điều
kiện ở nước ta.
Do thiếu các phương tiện chẩn
đoán cần thiết, nên chẩn đoán xác định dựa vào các yếu tố sau:
- Nữ tuổi trung niên.
- Viêm các khớp nhỏ ở hai bàn
tay, phối hợp với các khớp gối, cổ chân, khuỷu.
- Đối xứng.
- Có dấu hiệu cứng khớp buổi
sáng.
- Diễn biến trên 2 tháng.
2. Chẩn đoán phân
biệt.
2.1. Trong giai
đoạn cấp.
Khi chưa có dính và biến dạng
khớp cần phân biệt với:
- Thấp khớp cấp: dựa vào tuổi,
tính chất di chuyển.
- Thấp khớp phản ứng: xuất
hiện sau các bệnh nhiễm khuẩn, viêm khớp không đối xứng, không để lại di
chứng.
- Hội chứng Reiter: viêm khớp,
viêm niệu đạo, và kết mạc mắt.
2.2. Trong giai
đoạn sau.
- Hội chứng Pierre Marie: viêm
nhiều khớp, ngón tay ngón chân dùi trống, nguyên nhân do u phế quản.
- Biểu hiện khớp trong các
bệnh tạo leo nhất là bệnh lupus ban đỏ hệ
thống và xơ cứng bì. Phân biệt dựa vào các dấu hiệu toàn
thân, nội tạng, và xét nghiệm đặc hiệu.
- Bệnh gout: viêm nhiều khớp,
hay gặp nhất ở khớp bàn ngón chân cái, nổi u cục quanh khớp, xét nghiệm acid
uric trong máu tăng, bệnh chủ yếu ở nam giới tuổi trên 30.
- Bệnh viêm cột sống dính
khớp: bệnh ở nam giới, viêm cột sống và các khớp lớn ở chân.
- Thấp khớp vẩy nến: viêm khớp
kèm theo có vẩy nến ở ngoài da.
- Biểu hiện khớp trong các
bệnh tiêu hóa (như viêm đại trực tràng chảy máu), trong bệnh thần kinh (bệnh
Tabès), bệnh máu, ung thư... muốn phân biệt cần hỏi bệnh và khám xét kỹ
lưỡng.
- Thoái hóa khớp: đau mỏi là
dấu hiệu chủ yếu, ít khi thấy sưng nóng đỏ.
IV. ĐIỀU
TRỊ.
1. Nguyên tắc
chung.
- VKDT là bệnh mạn tính kéo
dài hàng chục năm, đòi hỏi quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục có khi đến
hết cả đời.
- Điều trị phải kết hợp chặt
chẽ giữa nội khoa, lý liệu phục hồi chức năng và ngoại khoa.
- Thời gian điều trị chia làm
nhiều giai đoạn nội trú, ngoại trú và điều dưỡng.
- Trong quá trình điều trị cần
theo dõi chặt chễ diễn biến của bệnh và các tai biến biến chứng có thể xảy
ra.
2. Điều trị nội
khoa.
2.1. Với thể nhẹ
và giai đoạn I.
- Aspirin 1-2g/24h, chia làm
nhiều lần.
- Cloroquin (Delagyl)
0,2-0,4g/24h, uống liên tục kéo dài hàng tháng.
- Tiêm Hydrocortison acetat
vào một vài khớp viêm nhiều.
- Tăng cường vận động, tập
luyện, điều trị bằng các phương pháp vật lý.
- Tránh ẩm thấp, lạnh, cần làm
việc nhẹ.
- Có thể điều trị kết hợp bằng
thuốc Y học cổ truyền.
2.2. Thể trung
bình, giai đoạn II.
- Dùng một trong các loại
thuốc chống viêm non-steroid sau:
+ Aspirin 1-2g/ngày.
+ Indomethacin 25mg x 2-6
viên.
+ Phenylbutason 100mg x 1-2
viên.
+ Voltaren 25mg x 2-6
viên.
+ Felden 10mg x 1-2 viên.
+ Tilcotil 10mg x 1-2 viên.
v.v...
+ Rofecoxib (Vioxx, Fecob)
25mg x 1 viên/ngày.
- Delagyl 0,2-0,4mg/ngày.
- Có thể dùng corticoid liều
trung bình 40mg Prednisolon mỗi ngày rồi giảm dần, không nên dùng kéo dài.
- Các biện pháp khác như thể
nhẹ.
2.3. Thể nặng,
tiến triển nhiều.
- Corticoid liều cao:
Prednisolon 1,5mg/kg/24h, hoặc Hydrocortison 100-200mg tiêm tĩnh mạch, rồi giảm
dần liều.
- Tiêm muối vàng: mỗi tuần 1
lần với liều tăng dần, tổng liều 1,5-2g, uống viên Auranofin 3mg x 2viên/24h
trong 3 tháng.
- Dénicillamin 300mg x 1-2
viên/ngày x 3 tháng.
- Salazopyrin 500mg x 2-4
viên/ngày kéo dài nhiều tháng.
- Thuốc ức chế miễn dịch:
Endoxan 1-2mg/kg/ngày; Chlorambucil 0,2mg/kg/ngày; Methotrexat 7-10mg/ngày, mỗi
tuần dùng 1 lần trong 3 tháng.
- Lọc huyết tương: nhằm loại
trừ phức hợp miễn dịch lưu hành trong máu.
- Tiêm vào trong khớp acid
osmic, hoặc một số chất đồng vị phóng xạ (Erbium 169, Phenium 87, Ytrium
90).
3. Điều trị bằng vật
lý và phục hồi chức năng.
3.1. Điều trị
chống viêm giảm đau.
- Nhiệt trị liệu: Dùng nhiệt
nóng có tác dụng tăng tuần hoàn, dinh dưỡng tại chỗ, giảm đau chống viêm. Tăng
tuần hoàn giúp phân tán các chất trung gian viêm, tăng nuôi dưỡng và hồi phục
nhanh tổn thương. Cần chú ý chống chỉ định nhiệt nóng trong trường hợp viêm cấp
có sưng nóng, phù nề hoặc tràn dịch khớp. Các phương pháp dùng nhiệt nóng
là:
+ Tắm ngâm: nước nóng toàn
thân, nước muối, nước lưu huỳnh (H2S), nước phóng xạ Radon, nước
khoáng thiên nhiên...
+ Đắp nóng tại khớp: paraffin,
túi nhiệt, bùn nóng, cát nóng.
+ Sóng ngắn: dùng liều ấm với
những khớp trung bình và lớn hoặc các khớp sâu như cổ tay, khuỷu, vai, cổ chân,
gối, háng...
+ Siêu âm: điều trị tại chỗ
đau có tác dụng giảm đau, chống thoái hóa do tác dụng cơ học, nhiệt và hóa học.
Có thể dùng siêu âm để dẫn thuốc như: các thuốc mỡ chống viêm, chế phẩm Omega
3…
+ Hồng ngoại.
+ Tử ngoại: dùng 3-5 liều sinh
lý, mỗi ngày chiếu 300-400cm2. Chiếu kín toàn bộ khớp đau và vùng lân
cận, nghỉ 2-3 ngày cho phản ứng đỏ da giảm bớt rồi lại chiếu tiếp. Một đợt 5-6
lần chiếu. Tác dụng giảm đau, chống viêm, giảm mẫn cảm khớp.
+ Khí hậu trị liệu: nên sống ở
vùng có khí hậu nhiệt đới.
- Điện trị liệu:
+ Dòng Galvanic đơn thuần hoặc
điện di thuốc salicylat, hydrocortison vào khớp để chống viêm.
+ Điện xung: dòng hình sin,
dòng TENS, dòng giao thoa.
+ Từ trường: có tác dụng giảm
đau và chống thưa xương.
- Xoa bóp: Có tác dụng giảm
đau, giảm co cơ, được dùng trong một số trường hợp thoái hóa khớp, viêm dính
khớp. Tốt nhất là xoa bóp bằng tay với các động tác xoa, vuốt, day.
3.2. Vận động phục
hồi chức năng khớp.
3.2.1. Trong giai đoạn
viêm cấp:
Viêm khớp có sưng, đau nặng
cần bất động khớp để hạn chế viêm phát triển. Tuy nhiên theo quan niệm cũ là
phải nghỉ ngơi lâu dài trên giường, như thế sẽ tạo ra các yếu tố nguy cơ ảnh
hưởng đến chức năng và gây thương tật thứ phát. Do đó, cho nghỉ ngơi phải cân
nhắc kỹ những điểm lợi và hại. Đối với đau khớp có thể tiến hành nghỉ ngơi như
sau:
- Khớp gối và khớp cổ chân bị
đau có thể được bó cố định bằng băng thun, người bệnh có thể đi lại được do cử
động khớp hông và khớp cột sống thắt lưng để bù trừ thay thế.
- Khớp cổ tay cố định, người
bệnh có thể sử dụng khớp khuỷu, vai, bàn và ngón tay.
- Khớp hông, khớp vai là các
khớp lớn có tầm vận động rộng rãi cũng phải bất động tương đối, cho vận động nhẹ
nhàng các khớp gối, khuỷu, cổ chân, cổ tay, bàn chân, bàn tay.
3.2.2. Khi viêm cấp lui
giảm:
- Giữ tư thế: là biện pháp
quan trọng đối với bệnh nhân viêm khớp, bao gồm các hoạt động sinh hoạt như:
nằm, ngồi, đi, đứng.
+ Khi nằm: cần nằm phản cứng
hoặc chỉ lót đệm mỏng, gối để thấp, lưng nằm phẳng, không nên dùng gối kê dưới
khoeo chân để tránh biến dạng gấp và cứng khớp gối. Trong một ngày bệnh nhân
phải nằm sấp ít nhất 2 lần, mỗi lần ít nhất 15 phút, để 2 bàn chân ra mép
giường, 2 cánh tay duỗi thẳng về phía đầu.
+ Khi ngồi: nên ngồi trên mặt
ghế cứng và lưng tựa thẳng, đặt 2 bàn chân sát lên mặt nền, hông và vai tựa vào
thành ghế. Tránh ngồi ghế thấp quá không để khối gối vuông góc, tránh ngồi quá
cao để 2 chân duỗi tự do.
+ Khi đứng: đứng dáng vươn lên
và đầu thẳng, giữ thẳng khớp hông và gối, làm cho lực phân bố đều lên 2 bàn
chân.
+ Khi đi: bước đi dứt khoát
không để kéo lê bàn chân, không đi với 2 chân nghiêng kéo rê mặt nền, dáng đi
chậm rãi nhẹ nhàng, để 2 tay đu đưa thoải mái bên thân mình, không đi với khớp
hông và gối cong gập (đi khom).
- Tập vận động: Cần tập vận
động sớm, gồm vận động thụ động, vận động chủ động và vận động có dụng cụ.
+ Cần chú ý: ở giai đoạn này
khớp viêm có cấu trúc yếu nên vận động mạnh dễ bị rách, đứt gân cơ, dây chằng.
Đồng thời phần đầu xương gần khớp bị loãng xương nên dễ bị gẫy, đặc biệt là các
khớp nhỏ như các khớp bàn ngón, khớp đốt ngón rất dễ gẫy ngay cả khi vận động
chủ động.
+ Do đó nguyên tắc tập vận
động là: tập các động tác phải thận trọng, tăng từ từ. Tập nhẹ nhàng xen lẫn
nghỉ ngơi, không tập gắng sức có thể làm đau thêm. Cố gắng khuyến khích người
bệnh tự tập để đạt tầm vận động tối đa, tốt nhất là hết tầm vận động.
+ Phương pháp tập: mỗi ngày
tập ít nhất 3-5 lần, thời gian đầu có thể chưa có khả năng vận động tới mức tối
đa, nhưng mỗi ngày bệnh nhân có thể đạt được tiến bộ tăng dần.
+ Ngoài tập động tác về tầm
vận động của khớp, còn phải tập một số động tác để tăng sức cơ. Ví dụ: khi tập
vận động khớp háng, khớp gối phải tập động tác tăng sưc cơ tứ đầu đùi và cơ mông
lớn. Vì cơ tứ đầu đùi có chức năng duỗi khớp gối cần cho hoạt động đi, đứng, lên
cầu thang, đứng dậy khỏi ghế. Cơ mông to có chức năng duỗi hông, chống lại
khuynh hướng gấp và phối hợp với cơ tứ đầu đùi để lên cầu thang và đứng dậy khỏi
ghế.
- Bất động khớp: Khi tình
trạng khớp co rút nhiều và kéo dài thì phương pháp tập vận động chưa đủ, hoặc
không đạt được hiệu quả cần thiết do cấu trúc của các thành phần khớp đã bị tổn
thương rút ngắn lại. Khi đó cần dùng một nẹp máng bột để bất động khớp ở mức
duỗi tối đa. Sau đó người bệnh vẫn đi lại tập luyện. Một tuần sau ta thay bằng
một máng bột có độ duỗi nhiều hơn. Tiếp tục làm thay đổi máng bột nhiều lần cho
đến khi khớp lấy lại độ duỗi gần như bình thường để đáp ứng được chức năng của
nó.
4. Điều trị ngoại
khoa.
- Bóc bỏ màng hoạt dịch.
- Phẫu thuật chỉnh hình khi có
biến dạng đứt dây chằng, trật khớp.
Tác giả
Bs Mai Trung Dũng
theo dieutridau.com
-----------------------------------Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 11 27, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét