1. Đại
cương.
1.1. Định
nghĩa.
Loãng xương (osteoporosis) là
hiện tượng tăng phần xốp của xương do giảm số lượng tổ chức xương, giảm trọng
lượng của một đơn vị thể tích, là hậu quả của việc suy giảm các khung protein và
lượng calci gắn với các khung này.
1.2. Giải phẫu
bệnh lý.
Thấy các bè xương teo, mỏng và
thưa, phần vỏ xương mỏng, tạo cốt bào thưa thớt, không thấy các đường diềm sinh
xương, tủy xương nghèo và thay bằng tổ chức mỡ.
1.3. Cơ chế bệnh
sinh.
1.3.1. Vai trò của calci
trong cơ thể.
Calci là nguyên tố hoạt động
nhất trong cơ thể con người, chiếm 1,5-2% trọng lượng cơ thể, trong đó 99% tồn
tại trong xương, răng, móng, chỉ có 1% tồn tại trong máu, tế bào và ngoại bào.
Trong cơ thể, calci đóng vai trò truyền dẫn thông tin, tham gia vào hầu hết các
hoạt động của cơ thể và của tế bào. Nó tồn tại ở hai mức nồng độ theo tỷ lệ ổn
định: nồng độ calci trong xương/ nồng độ calci trong máu bằng 10.000/1. Nồng độ
calci trong máu của người lớn có sức khỏe bình thường là 9-11mg/100ml, nếu giảm
quá 7mg/100ml sẽ bị chuột rút, chân tay co giật, ngược lại nếu tăng quá
13mg/100ml thì sẽ bị loạn nhịp tim… Khi cơ thể thiếu calci, hệ
thống tự điều chỉnh sẽ điều tiết để duy trì sự ổn định của
nồng độ calci máu.
1.3.2. Các yếu tố tham gia
chuyển hóa calci.
- Hormon cận giáp (parathormon
– PTH): khi cơ thể hấp thu calci không đủ thì nồng độ calci máu tạm thời giảm
xuống, thông tin này truyền qua hệ thần kinh lập tức kích thích tuyến cận giáp
tiết ra hormon PTH, có tác dụng làm tăng calci máu do các tác động sau:
+ Làm tăng hấp thu calci ở
ruột.
+ Làm giảm ngưỡng phosphat ở
thận dẫn đến tăng đào thải phosphat làm phosphat máu giảm, do đó phải huy động
phosphat và kéo theo cả calci từ xương vào máu.
+ Làm tăng tạo acid citric để
hoà tan các muối trong xương làm thưa xương và tạo hốc xương.
Khi tình trạng thiếu calci kéo
dài, tuyến cận giáp phải liên tục tiết ra quá nhiều PTH, chức năng của tuyến làm
việc quá mức nên không kiểm soát được nồng độ calci máu nữa, do vậy nồng độ
calci máu tăng cao trong khi nồng độ calci trong xương bị giảm xuống.
- Hormon tuyến giáp
(calcitonin): là hormon hạ calci máu, tác dụng ngược với PTH:
+ ức chế tiêu xương bằng cách
ức chế hoạt tính của các hủy cốt bào (ostéoclaste), đồng thời làm tăng tạo xương
do kích thích tạo cốt bào (ostéblaste).
+ Gây tăng thải trừ calci và
phosphat qua nước tiểu.
+ Làm tăng hấp thu calci ở
đường tiêu hóa.
+ Hormon tuyến giáp còn có vai
trò chuyển lượng calci dư thừa trong máu vào các tổ chức khác để làm hạ nồng độ
calci máu. Nếu calci chuyển vào tổ chức gân dây chằng tạo nên các gai xương, mỏ
xương; nếu chuyển vào đường tiết niệu, mật gây ra sỏi; nếu chuyển vào thành mạch
gây xơ vữa động mạch; chuyển vào tế bào thần kinh gây lão hóa…
- Vitamin D: có hai loại: loại
tổng hợp (ergocalciferol - D2) và loại tự nhiên (cholecalciferol -
D3). Trong cơ thể quá trình tổng hợp và chuyển hóa vitamin D diễn ra
như sau:
Chất
25(OH)D3 có hoạt tính sinh học yếu, trong khi chất
1[a],25(OH)2D3 (còn gọi là calcitrol) là chất
có hoạt tính sinh học mạnh, có tác dụng làm tăng hấp thu calci ở ruột và tăng
gắn calci vào xương.
- Hormon sinh dục: hormon sinh
dục nam có tác dụng đồng hóa, tăng đồng hóa protid, giữa nitơ và các muỗi
K+, Na+, phospho, Ca++… nên làm phát triển cơ
xương; hormon sinh dục nữ giúp tăng hấp thu và tái hấp thu calci.
- Glucocorticoid của vỏ thượng
thận có tác dụng làm tăng thải trừ calci và phospho qua nước tiểu, giảm hấp thu
Ca++ ở ruột do đối kháng với Vitamin D, do đó có xu
hướng làm giảm Ca++ trong cơ thể và có thể dẫn tới cường
cận giáp trạng và làm xương bị thưa thêm, trẻ em còi xương chậm lớn.
1.3.3. Nguyên nhân loãng
xương.
Loãng xương là hậu quả của sự
phá vỡ cân bằng bình thường của 2 quá trình tạo xương và hủy xương, quá trình
tạo xương suy giảm trong khi quá trình hủy xương bình thường. Nguyên nhân của
hiện tượng này có thể do:
- Vấn đề tuổi tác: người già
ít hoạt động ngoài trời, thiếu ánh nắng, thiếu vitamin D; chức năng dạ dày,
đường ruột, gan, thận và tạo xương suy yếu; xương bị thoái hóa.
- Hormon sinh dục nữ giảm: phụ
nữ sau khi mãn kinh thì hormon sinh dục nữ giảm làm tăng nhanh tốc độ quá trình
chuyển calci từ xương vào máu. Theo thống kê, phụ nữ sau khi mãn kinh, hàng năm
thất thoát 2-3% calci. Do đó nếu phụ nữ ở độ tuổi 50-60 không chú ý bổ sung
calci thì ngoài 60 tuổi hàm lượng calci trong xương chỉ còn bằng 1/2 thời trẻ.
Đó là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng phụ nữ bị loãng xương nhiều gấp 6 lần
nam giới.
- Hormon cận giáp: do calci
trong thức ăn không đủ để duy trì nồng độ calci cần thiết trong máu, khi đó
hormon cận giáp tiết ra để điều calci trong xương chuyển ra bổ sung cho máu nhằm
duy trì sự ổn định nồng độ calci trong máu. Tình trạng này kéo dài làm cho kết
cấu xương bị thưa loãng.
- Dinh dưỡng thiếu: calci,
phospho, magne, albumin dạng keo, acid amin, và các nguyên tố vi lượng thiếu
cũng góp phần gây loãng xương.
- Suy giảm miễn dịch: cũng góp
phần gây chứng loãng xương.
1.4. Phân loại
loãng xương.
1.4.1. Loãng xương nguyên
phát.
Là mức độ nặng của tình trạng
thiểu sản xương bệnh lý, do sự lão hóa của các tạo cốt bào, tuổi càng cao thì
tình trạng thiểu sản xương càng tăng, cho đến khi trọng lượng xương (trong một
đơn vị thể tích) giảm trên 30% thì có biểu hiện lâm sàng. Loãng xương nguyên
phát được chia thành 2 thể:
- Loãng xương typ I: loãng
xương ở tuổi mạn kinh, xuất hiện sau tuổi mạn kinh của nữ từ 6-8 năm, loãng
xương nặng ở phần xương xốp thường biểu hiện bằng xẹp đốt sống dẫn đến gù.
- Loãng xương typ II: là loãng
xương tuổi già gặp ở cả nam và nữ, loãng xương chủ yếu ở phần vỏ xương (xương
đặc), thường biểu hiện bằng xương dễ gẫy.
1.4.2. Loãng xương thứ
phát.
Có thể xuất hiện ở mọi lứa
tuổi do các nguyên nhân khác nhau:
- Bất động quá lâu do bệnh
hoặc do nghề nghiệp (du hành vũ trụ).
- Do bệnh nội tiết: cường vỏ
thượng thận, suy tuyến sinh dục, cường giáp trạng, to viễn cực.
- Do bệnh thận: thải nhiều
calci, chạy thận nhân tạo, thiếu chất 1 hydroxylase trong sơ đồ chuyển hóa
vitamin D.
-
Do thuốc: lạm dụng corticoid, heparin...
2. Triệu chứng lâm sàng.
Những biểu hiện lâm sàng chỉ
xuất hiện khi trọng lượng xương giảm trên 30%. Sự xuất hiện từ từ tự nhiên hoặc
sau một chấn thương, đôi khi tình cờ chụp X quang mà thấy.
- Biểu hiện lâm sàng là một
hội chứng cột sống: Đau và hạn chế vận động cột sống, cánh chậu, bả vai. Đau làm
cho cột sống cứng đờ, co thắt các cơ cạnh sống, gõ ấn vào các gai sau đốt sống
đau tăng và lan tỏa. Đau tăng khi vận động, đứng, ngồi lâu, đau giảm khi nghỉ
ngơi.
- Tái phát từng đợt, thường
sau khi vận động nhiều, chấn thương nhẹ, thay đổi thời tiết. Đôi khi có hội
chứng rễ thần kinh biểu hiện bằng đau thần kinh hông to, đau thần kinh liên sườn
vùng ngực bụng.
- Cột sống giảm dần chiều cao,
biến dạng đường cong sinh lý dẫn đến gù vùng lưng hay thắt lưng, chiều cao cơ
thể giảm đi rõ rệt so với khi còn trẻ tuổi. Xương dễ gẫy, đôi khi chỉ một chấn
thương nhẹ cũng làm gẫy cổ xương đùi, gẫy đầu dưới xương quay, gẫy lún đốt
sống.
Trên lâm sàng người ta chia
loãng xương thành 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: chỉ có biểu
hiện đau âm ỉ, đau tăng khi đứng lâu, ngồi lâu.
+ Giai đoạn 2: có biểu hiện
giảm chiều cao cơ thể, gù lưng.
+ Giai đoạn 3: xương dễ gẫy,
chạm nhẹ cũng bị gẫy.
3. Cận lâm
sàng.
3.1. X
quang.
- Xương giảm tỷ trọng tăng
sáng hơn bình thường, mức độ nhẹ có thể nhìn thấy cấu trúc các bè xương là những
đường vân dọc hoặc chéo, mức độ nặng thì xương trong như thủy tinh, phần vỏ
ngoài của xương đốt sống đạm hơn gọi là hiện tượng đốt sống bị đóng khung.
- Hình ảnh lún đốt sống: xuất
hiện hàng loạt trên nhiều đốt, đĩa đệm ít thay đổi, thân đốt sống giảm chiều cao
và biến dạng, tạo nên hình ảnh thấu kính phân kỳ, hình chêm, hình đốt sống cá
(phim nghiêng). Rénier dựa vào hình dạng đốt sống thắt lưng chụp nghiêng để đánh
giá mức độ loãng xương bằng cách cho điểm như sau:
0: Thân đốt sống bình
thường.
1: Mặt trên thân đốt sống hơi
lõm.
2: Mặt trên lõm rõ.
3: Lõm cả 2 mặt trên dưới
(thấu kính phân kỳ).
4: Đốt sống hình chêm.
5: Đốt sống hình lưỡi.
- Chụp xương đốt bàn tay hai
ngón trỏ để đo chỉ số Barnett & Nordin, bằng cánh đo đường kính thân xương
D, đường kính phần tủy xương d:
Chỉ số dưới 45 được coi là
loãng xương.
- Chụp đầu trên xương đùi ở tư
thế thẳng để đánh giá chỉ số Singh: bình thường thấy 4 hệ
thống các dải xương hiện rõ, khi các dải xương bị đứt gẫy,
mất đi ít hay nhiều người ta cho điểm từ 1 đến 7 (7 là bình thường, 1 là rất
nặng).
3.2. Các xét
nghiệm.
3.2.1. Các xét nghiệm sinh
hóa.
- Định lượng calci, phospho,
men phosphatase kiềm trong máu và nước tiểu đều bình thường.
- Nghiệm pháp tăng calci máu:
tiêm tĩnh mạch 20ml gluconat Ca 10%, lấy toàn bộ nước tiểu trong 9 giờ sau khi
tiêm, định lượng số calci thải ra rồi so sánh với số calci thải ra trong 9 giờ
ngày hôm trước khi chưa tiêm. Bệnh nhân loãng xương thì lượng calci thải ra cao
hơn bình thường 30% (vì người loãng xương khả năng hấp thụ và giữ calci kém hơn
người bình thường).
- Nghiệm pháp vitamin
D2: uống vitamin D2 mỗi ngày 15mg trong hai
ngày liền, sau đó định lượng calci niệu sau 24 giờ, sau 48 giờ và sau 5 ngày.
Bình thường calci niệu tăng 50-100mg trong 24 giờ đầu, sau đó trở về bình
thường. Bệnh nhân loãng xương thì calci niệu tăng nhiều và kéo dài sau nhiều
ngày.
- Nghiệm pháp corticoid: trong
5 ngày mỗi ngày uống 25mg prednisolon, định lượng calci niệu từng ngày. Bình
thường calci niệu không đổi, bệnh nhân loãng xương thì calci niệu tăng nhiều và
kéo dài.
3.2.2. Các xét nghiệm đánh
giá mức độ loãng xương khác.
- Sử dụng đồng vị phóng xạ:
uống Ca47 hoặc tiêm Ca45 sau đó
theo dõi trong máu, nước tiểu và ghi xạ đồ. Bệnh nhân loãng xương thì khả năng
cố định calci ở xương ít so với bình thường.
- Phương pháp hấp thụ proton:
dùng tia gama đơn dòng của I125 hay dùng 2 nguồn tia
gama có năng lượng khác nhau của Gd153 chiếu vào vùng
xương cẳng tay hay cột sống, trong bệnh loãng xương khả năng hấp thụ tia gama ít
hơn so với bình thường.
- Chụp CT scanner xương rồi so
sánh với một bộ gam màu làm sẵn để xác định tỷ trọng và đánh giá chính xác mức
độ loãng xương.
- Sinh thiết xương cánh chậu:
dựa vào sự thay đổi cấu trúc bè xương, các tế bào (tạo cốt báo và hủy cốt bào),
tổ chức tạo xương để chẩn đoán tình trạng loãng xương.
- Phương pháp đo mật độ khoáng
trong xương (bone mineral density - BMD) bằng chỉ số T score:
Để xác định chỉ số T-score,
người ta hay dùng các phương pháp sau:
+ Dual-energy
X-ray absorptiometry (DEXA): sử dụng hai tia X với mức
năng lượng khác nhau được định hướng vào xương của bệnh nhân. Khi sự hấp thu của
mô mềm được loại trừ, BMD có thể được xác định nhờ vào độ hấp thu của mỗi tia
bởi xương. Phương pháp DEXA này có thể đo ở mức mất xương cỡ 2% mỗi năm.
+ Ngoài phương pháp DEXA đo
xương háng và xương cột sống, phương pháp đo DEXA ngoại
biên (Peripheral dual-energy X-ray absorptiometry/P-
DEXA) là một phương pháp biến chế của DEXA, dùng để đo mật
độ xương chân tay, như xương cổ tay. Máy đo P-DEXA là máy nhỏ có thể di chuyển
dễ dàng. P-DEXA dùng số lượng chất phóng xạ rất nhỏ, và đo rất nhanh chóng. Tuy
nhiên máy này không hữu hiệu như DEXA khi dùng để theo dõi hiệu nghiệm của thuốc
điều trị bệnh loãng xương.
+ Siêu
âm là phương pháp thường dùng đầu tiên để dò lược tìm
chứng loãng xương ở gót chân. Khi kết quả siêu âm cho thấy mật độ xương thấp,
thì sau đó bệnh nhân được đề nghị cho làm DEXA. Phương pháp siêu âm cho kết quả
nhanh và không độc hại. Tuy nhiên điểm bất lợi của siêu âm là không thể đo được
mật độ của xương háng hay cột sống, và cũng không hữu hiệu như DEXA khi dùng để
theo dõi hiệu nghiệm của thuốc điều trị bệnh loãng xương.
4. Điều trị.
- Thuốc giảm đau: chỉ nên dùng
khi đau nhiều, nên dùng nhóm non-steroid, không dùng corticoid.
- Calci đường uống: gluconat
Ca 0,5-1g/ngày.
- Vitamin
D2 800đv hoặc D3 0,25mg/ngày.
Rocaltrol (calcitriol-chất có tác dụng thay thế calcitrol) viên
0,25[m]g/ngày.
- Fluorur natri (Chemifluor,
Osteofluor, Zymafluor) viên nén bọc tan ở ruột 20-25 và 40mg ngày 2 lần x 40mg
vào sau ăn, có tác dụng cố định ion Ca++ ở mô xương, chú
ý uống cách xa gluconat calci để tránh kết tủa ở ruột. Phòng bệnh: ngày 2 lần x
20mg.
- Nội tiết tố sinh dục:
+ Loãng xương tuổi mạn kinh,
typ I: cho phối hợp cả oestrogen và progesteron để tránh tai biến ung thư tử
cung. Có thể dùng: Livial (tibolone) 1mg x 1viên/ngày; Raloxifene viên 60mg x
1viên/ngày có tác dụng chọn lọc trên xương không tác dụng nội tiết.
+ Loãng xương người già, typ
II: dùng testosteron (Andriol nang 40mg x 1 viên/ngày), hoặc Durabulin
(Nandrolone phenylpropionat) 25mg x 1 ống/tuần (tiêm bắp).
- Thyrocalcitonin (Miacalcic,
Calcitar, Calsyn, Cibacalcin - là hoạt chất calcitonin cá hồi tổng hợp), hàm
lượng 50 UI/ml/ống, tiêm bắp 1 ống hàng ngày hoặc cách ngày một lần. Để tiếp tục
điều trị thì giảm liều xuống sau vài ngày khởi đầu hoặc kéo dài khoảng cách giữa
các lần tiêm, thuốc có tác dụng ức chế hủy cốt bào.
- Biphosphonate: Là một nhóm
thuốc mới có tác dụng làm tăng khối lượng và độ cứng của xương, đặc biệt ở cột
sống, làm giảm đáng kể nguy cơ gãy xương. Hiện nay 2 loại đang được sử dụng rộng
rãi là: Alendronate (Fosamax)
70mg, mỗi tuần uống 1 viên trong 3-6 tháng và Risedronate (Actonel).
- Parathormon (PTH) là hormon
tuyến cận giáp có tác dụng làm tăng calci máu.
- Các loại cao xương, cao toàn
tính động vật, các loại sữa gầy giàu calci.
- Chế độ ăn đảm bảo lượng
calci từ 0,8-1g/ngày, chế độ vận động hợp lý, hạn chế chất kích thích (rượu bia,
thuốc lá...).
- Vật lý trị liệu để giảm đau,
đặc biệt dùng hồng ngoại và tử ngoại để tăng cường hấp thu vitamin D, từ trường
để chống loãng xương.
5. Dự
phòng.
- Tăng cường vận động phù hợp
với khả năng.
- Uống calci (0,5-1,5g/ngày)
và vitamin D kéo dài.
- Dùng nội tiết tố kéo dài sau
tuổi mạn kinh:
+ Giai đoạn tiền mãn kinh: mỗi
tháng dùng thuốc 15 ngày: Microfolin (ethinylestradiol) 10mg/ngày x 10 ngày ngay
sau khi sạch kinh. Sau đó Progesteron 10mg/ngày x 5 ngày tiếp theo.
+ Giai đoạn mãn kinh: mỗi
tháng dùng 20 ngày: Microfolin 25mg/ngày x 15 ngày, sau đó Progesteron 10mg/ngày
x 5 ngày tiếp theo.
Tác giả Bs Mai Trung Dũng
theo dieutridau.com
-----------------------------------Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 11 27, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét