I. ĐẠI
CƯƠNG.
1. Định
nghĩa.
Bệnh Goutte là một bệnh do rối
loạn chuyển hóa acid uric, lượng acid uric cao trong máu lắng đọng ở khớp gây
nên tình trạng viêm khớp không đặc hiệu.
2. Nguồn gốc và sự
chuyển hóa acid uric.
Có thể nói nguồn gốc trực tiếp
gây bệnh Goutte là acid uric, do đó cần tìm hiểu nguồn gốc và sự chuyển hóa acid
uric trong cơ thể. Ở người bình thường, lượng acid uric trong máu được giữ ở một
mức độ cố dịnh là 5mg% ở nam và 4mg% ở nữ. Tổng lượng acid uric trong cơ thể là
1000mg, lượng này luôn được chuyển hóa sinh mới và thải trừ.
- Acid uric được tạo ra từ 3
nguồn:
+ Thoái giáng từ các chất có
nhân purin (protid động vật) do thức ăn mang vào.
+ Thoái giáng từ các chất có
nhân purin có trong cơ thể (các acid nhân AND và ARN do sự phá hủy các tế bào
giải phóng ra).
+ Tổng hợp các purin từ con
đường nội sinh.
- Tham gia vào quá trình hình
thành acid uric từ 3 nguồn trên còn có sự tham gia của các men: nuclease,
xanthinoxydase, hypoxanthin-guanin-phosphoribosyl- transferase (HGPT):
- Thải trừ: để cân bằng lượng
acid uric trong máu, hàng ngày acid uric được thải ra ngoài chủ yếu theo con
đường thận (450-500mg/24h) và một phần qua phân và các con đường khác
(200mg).
3. Cơ chế bệnh
sinh.
3.1. Vai trò sinh
bệnh của acid uric.
Khi lượng acid uric trong máu
tăng trên 7mg% (416μmol/l) và tổng lượng acid uric trong cơ thể tăng thì acid
này sẽ lắng đọng lại ở một số tổ chức và cơ quan dưới dạng các tinh thể acid
uric hay urat monosodic gây tổn thương tại các cơ quan đó:
- Lắng đọng ở màng hoạt dịch
gây viêm khớp.
- Lắng đọng ở thận gây sỏi
thận.
- Lắng đọng ở các nội tạng và
cơ quan khác gây Goutte ở các nơi đó như:
+ Sụn xương: sụn khớp, sụn
vành tai, thanh quản.
+ Gân: gân Achille, các gân
duỗi các ngón...
+ Tổ chức dưới da: ở khuỷu,
mắt cá, gối.
+ Thành tim, thành mạch.
+ Mắt.
+ Các cơ quan khác: hiếm
gặp.
3.2. Nguyên nhân
gây tăng acid uric.
- Tăng acid uric bẩm sinh:
trong bệnh Lesh-Nyhan, do thiếu men HGPT nên lượng acid uric tăng cao ngay từ
nhỏ, bệnh có các biểu hiện toàn thân, thần kinh, thận và khớp.
- Tăng acid uric nguyên phát:
gắn liền với yếu tố di truyền và cơ địa, quá trình tổng hợp purin nội sinh tăng
nhiều gây tăng acid uric. Đây là nguyên nhân chủ yếu của bệnh.
- Tăng acid uric thứ phát: do
các nguyên nhân:
+ Do ăn nhiều: nhất là ăn
nhiều thức ăn có hàm lượng purin cao như gan, lòng, thịt, cá, nấm, tôm, cua, do
uống rượu... Thực ra đây chỉ là những tác nhân phát động bệnh hơn là những
nguyên nhân trực tiếp.
+ Do tăng thoái giáng purin
nội sinh (phá hủy nhiều tế bào, tổ chức): trong bệnh đa hồng cầu, leuxemi kinh
thể tủy, Hodgkin, sacom hạch, đa u tủy xương, hoặc do sử dụng nhiều thuốc diệt
tế bào để điều trị ung thư.
+ Do giảm thải acid uric qua
thận: viêm thận mạn tính, suy thận.
3.3. Vai trò của
acid uric trong viêm khớp.
Viêm khớp vi thể: dựa vào
những nhận xét về dịch khớp và thực nghiệm, Hollander và Mc.Carty nêu lên vai
trò của một số tinh thể nhỏ gây viêm khớp và gọi chung là nhóm viêm màng hoạt
dịch vi tinh thể: tinh thể urat monosodic trung bệnh Goutte, tinh thể
pyrophosphat Ca trong bệnh vôi hóa sụn khớp, và tinh thể hydrocortison trong
viêm khớp sau tiêm hydrocortison tại chỗ.
Trong bệnh Goutte, urat lắng
đọng ở màng hoạt dịch sẽ gây nên một loạt các phản ứng:
- Hoạt tác yếu tố Hageman tại
chỗ từ đó kích thích các tiền chất gây viêm Kininogen và Kallicreinogen trở
thành kinin và kallicrein gây phản ứng viêm ở màng hoạt dịch.
- Từ phản ứng viêm, các bạch
cầu sẽ tập trung tới và thực bào các vi tinh thể urat rồi giải phóng các men
tiêu thể của bạch cầu (lysozim). Các men này là một tác nhân gây viêm rất
mạnh.
- Phản ứng viêm của màng hoạt
dịch sẽ làm tăng chuyển hóa, sinh nhiều acid lactic tại chỗ và làm giảm độ pH,
môi trường càng toan thì urat càng lắng đọng nhiều và phản ứng viêm trở thành
một vòng luẩn quẩn làm viêm kéo dài. Do đó trên lâm sàng sẽ thấy 2 thể Goutte:
Thể bệnh cấp tính, quá trình viêm diễn biến trong một thời gian ngắn rồi chấm
dứt nhưng hay tái phát. Thể viêm mạn tính quá trình lắng đọng urat nhiều và kéo
dài, biểu hiện viêm sẽ liên tục không ngừng.
II. CÁC THỂ
GOUTTE.
1. Goutte cấp
tính.
1.1. Điều kiện
xuất hiện và tiền triệu.
Cơn Goutte cấp tính thường
xuất hiện sau một số hoàn cảnh thuận lợi sau:
- Sau một bữa ăn có nhiều
thịt.
- Sau chấn thương hoặc phẫu
thuật.
- Sau lao động nặng, đi lại
nhiều, đi giầy chật.
- Stress mạnh.
- Nhiễm khuẩn cấp.
- Sau khi dùng một số thuốc:
lợi tiểu nhóm clorothiazid, tinh chất gan, vitamin B12, steroid.
Khoảng 50% bệnh nhân có các
dấu hiệu báo trước như rối loạn tiêu hóa, nhức
đầu, mỏi mệt, đái nhiều và nóng buốt, sốt nhẹ...
1. 2. Triệu
chứng.
- Đa số biểu hiện bằng đau cấp
tính ở khớp bàn ngón chân cái một bên, thường xuất hiện vào ban đêm làm bệnh
nhân thức giấc. Khớp bàn ngón chân cái sưng to, căng bóng, nóng đỏ và xung
huyết, đau dữ dội ngày càng tăng, không thể chịu nổi, chỉ một va chạm nhẹ cũng
làm đau tăng lên. Trong khi các khớp khác vẫn bình thường.
- Toàn thân: có biểu hiện sốt
nhẹ, mệt mỏi, lo lắng, mắt nổi tia đỏ, khát nước, nhưng đái ít và đỏ, đại tiện
táo.
- Đợt viêm kéo dài 1-2 tuần
(trung bình là 5 ngày), đêm đau nhiều hơn ngày, viêm nhẹ dần, đau giảm, bớt phù,
hơi ướt, ngứa nhẹ rồi bong vảy và khỏi hẳn, không để lại dấu vết gì ở ngón chân.
Bệnh có thể tái phát nhiều lần trong một năm.
- X quang: không có gì thay
đổi.
- Xét nghiệm trong cơn thấy:
acid uric tăng trên 7mg% (416μmol/l), bạch cầu tăng, tốc độ máu lắng tăng, chọc
dịch ở nơi viêm có thể thấy tinh thể urat nằm trong bạch cầu. Ngoài cơn thường
thấy acid uric máu cao hơn bình thường, nhưng cũng có khi không tăng.
1. 3. Thể lâm
sàng.
1.3.1. Thể theo vị trí
khớp viêm.
- Ngoài vị trí khớp bàn ngón
chân cái chiếm 60-70%, các vị trí khác ở bàn chân đứng hàng thứ hai như: cổ
chân, các ngón chân, sau đó là khớp gối, rất ít khi ở chi trên.
- Thể đa khớp chiếm 5-10%,
bệnh nhân có sốt, sưng đau lần lượt từ khớp này sang khớp khác, rất dễ nhầm với
thấp khớp cấp.
1.3.2. Thể theo triệu
chứng và tiến triển.
- Thể tối cấp: sưng tấy dữ
dội, đau nhiều, sốt cao dễ nhầm với viêm khớp do vi khuẩn.
- Thể nhẹ kín đáo: chỉ mỏi
mệt, không sốt, đau ít, dễ bị bỏ qua.
- Thể kéo dài: thời gian kéo
dài, diễn biến từ khớp này sang khớp khác.
2. Goutte mạn
tính.
Goutte mạn tính biểu hiện bằng
dấu hiệu nổi các u cục (tophi) và viêm đa khớp mạn tính, do đó còn được gọi là
Goutte do lắng đọng. Goutte mạn tính có thể tiếp theo Goutte cấp tính, nhưng
phần lớn là khởi đầu từ từ tăng dần không qua các đợt cấp.
2.1. Triệu chứng
lâm sàng.
2.1.1. Tại khớp.
- Nổi u cục (tophi): là hiện tượng lắng
đọng urat ở xung quanh khớp, ở màng hoạt dịch, đầu xương, sụn... Vị trí thường
thấy ở trên các khớp bàn ngón chân cái, các ngón chân khác, cổ chân, gối, khuỷu,
cổ tay, bàn ngón tay và đốt ngón gần, có một vị trí rất đặc biệt là trên sụn
vành tai. Không bao giờ có ở khớp háng, vai và cột sống.
Tính chất: Kích thước to nhỏ
không đều, đường kính từ vài mm đến vài cm, lồi lõm, hơi chắc hoặc mềm, không di
động do dính vào nền ở dưới, không đối xứng 2 bên và không cân đối, ấn vào không
đau, được bọc bởi một lớp da mỏng, phía dưới thấy cặn trắng như phấn, đôi khi da
bị loét và dễ chảy nước vàng và chất trắng như phấn.
- Viêm đa khớp: Các khớp nhỏ
và nhỡ bị viêm bàn ngón chân và tay, đốt ngón gần, cổ tay, gối, khuỷu, viêm
thường nhẹ không đau nhiều và có tính chất đối xứng, diễn biến chậm. Các khớp
háng, vai, cột sống không bị tổn thương.
2.1.2. Biểu hiện ngoài
khớp.
- Thận: urat có thể lắng đọng
ở thận dưới hai hình thức:
+ Lắng đọng rải rác ở nhu mô
thận: có thể không biểu hiện triệu chứng gì, cũng có khi gây viêm thận bể
thận.
+ Sỏi đường tiết niệu: sỏi
urat ít cản quang nên chụp X quang khó phát hiện, sỏi tiết niệu là một yếu tố
tiên lượng bệnh.
- Gân, túi hoạt dịch: có thể
gây đứt gân hoặc chèn ép thần kinh (hội chứng đường hầm).
- Ngoài da và móng tay móng
chân: thành từng vùng và mảng dễ nhầm với bệnh ngoài da khác.
- Tim: urat có thể lắng đọng ở
màng ngoài tim, cơ tim, có khi cả ở van tim (hiếm gặp).
2.2. Xét nghiệm và
X quang.
2.2.1. Xét
nghiệm:
- Acid uric máu tăng trên 7mg%
(416μmol/l).
- Acid uric niệu/24h bình
thường từ 400-450mg, tăng nhiều trong Goutte nguyên phát, giảm rõ trong Goutte
thứ phát sau bệnh thận.
- Tốc độ máu lắng trong đợt
tiến triển tăng, các xét nghiệm khác bình thường.
2.2.2. Dịch khớp.
Dịch khớp có biểu hiện viêm rõ
rệt (lượng muxin giảm, bạch cầu tăng nhiều). Đặc biệt thấy những tinh thể urat
monosodic nằm trong hoặc ngoài tế bào: là những tinh thể hình que, hai đầu nhọn,
lưỡng chiết quang (qua kính hiển vi đối pha), dài bằng hoặc hơn kích thước của
bạch cầu (phân biệt với tinh thể pyrophosphat Ca rất ngắn và hai đầu vuông
cạnh).
2.2.3. X quang.
Dấu hiệu quan trọng nhất của
bệnh là khuyết xương hình hốc ở các đầu xương: hay gặp ở xương đốt ngón chân,
ngón tay, xương bàn tay, bàn chân, đôi khi ở cổ tay, cổ chân, khuỷu và gối.
Khuyết lúc đầu ở dưới sụn khớp và vỏ xương, khe khớp hẹp rõ, sau đó hình khuyết
lớn dần và tạo nên hình hủy xương rộng, xung quanh có những vệt vôi hóa. Nếu
bệnh tiến triển lâu còn có thể thấy hình ảnh thoái hóa thứ phát (gai xương).
2. 3. Chẩn
đoán.
2.3.1. Chẩn đoán xác
định.
Dựa vào cơ địa, các u cục
quanh khớp và vành tai, viêm đa khớp, acid uric trong máu tăng cao, tìm thấy
tinh thể acid uric trong dịch khớp, hình ảnh khuyết xương trên X quang.
2.3.2. Tiêu chuẩn chẩn
đoán Goutte cấp và mạn.
Do Bennett và Wood (Mỹ) đề
xuất năm 1968:
a) Hoặc tìm thấy tinh thể acid
uric trong dịch khớp hay trong các u cục (tophi).
b) Hoặc tối thiểu có từ 2 tiêu
chuẩn sau đây trở lên:
- Trong tiền sử hoặc hiện tại
có ít nhât 2 đợt sưng đau của 1 khớp với tính chất bắt đầu đột ngột, đau dữ dội
và khỏi hoàn toàn trong vòng vài tuần.
- Trong tiền sử hoặc hiện tại
có sưng đau khớp bàn ngón chân cái với các tính chất như tiêu chuẩn trên.
- Tìm thấy các u cục
(tophi).
- Tác dụng điều trị kết quả
nhanh chóng (trong vòng 48h) của Colchicin trong tiền sử hay hiện tại.
Chẩn đoán xác định khi có tiêu
chuẩn a hoặc 2 yếu tố của tiêu chuẩn b.
2.3.3. Chẩn đoán phân
biệt.
- Với bệnh viêm khớp dạng
thấp, nhất là với thể có nhiều hạt dưới da. Dựa vào giới, tính chất u cục, acid
uric máu và hình ảnh X quang thường.
- Bệnh phong thể củ: cần tìm
hiện tượng mất cảm giác và vi khuẩn Hansen ở nước mũi khi có nghi ngờ.
3. Goutte thứ
phát.
3.1. Đặc
điểm.
- Bệnh Goutte được coi là thứ
phát khi tìm thấy nguyên nhân gây tăng acid uric máu và khi loại trừ nguyên nhân
thì bệnh khỏi.
- Đặc điểm lâm sàng và xét
nghiệm:
+ Cũng thường gặp ở nam giới
tuổi trung niên.
+ Hay gặp thể viêm khớp cấp di
chuyển hơn là thể ngón chân cái và hầu như không gặp thể đa khớp có u cục.
+ Thường có kèm theo sỏi thận,
hoặc lắng đọng urat ở nhu mô thận.
3.2. Nguyên
nhân.
3.2.1. Sau các bệnh
máu.
- Bệnh đa hồng cầu.
- Một số bệnh thiếu máu do tan
máu.
- Lơxêmi cấp và kinh thể
tủy.
- Bệnh Hodgkin và sacom
hạch.
- Dùng các phương pháp diệt
nhiều tế bào để điều trị các bệnh ác tính: hóa chất, tia xạ.
3.2.2. Một số bệnh
thận.
- Viêm cầu thận mạn tính.
- Suy thận mạn do nhiều nguyên
nhân.
3.2.3. Do thuốc.
Thường là tác nhân phát bệnh
hơn là nguyên nhân.
- Do dùng steroid nhiều và kéo
dài.
- Thuốc Pyrazinamid chống lao,
lactat Na.
- Thuốc lợi tiểu nhóm
clorothiazid (ức chế quá trình thải acid uric qua ống thận).
3.2.4. Các nguyên nhân
hiếm gặp khác.
- Bệnh thận do thai nghén.
- Suy tuyến giáp.
- Gan nhiễm glycogen.
- Cường cận giáp...
III. ĐIỀU
TRỊ.
1. Điều trị cơn Goutte
cấp tính.
1.1. Chế
độ.
Nghỉ ngơi hoàn toàn, giữ ấm,
ăn nhẹ, uống nhiều nước (nước suối khoáng kiềm cao) 1-2 lít/ngày.
1.2. Thuốc chống
viêm.
- Colchicin viên 1mg: Ngày đầu uống 3 viên
chia 3 lần.
Ngày thứ hai uống 2 viên chia
2 lần.
Ngày thứ 3 đến thứ 7 dùng 1
viên vào buổi tối.
Chỉ dùng thuốc trong 1 tuần, chú ý tai biến buồn
nôn, ỉa chảy, mẩn ngứa, sốt cao...
Hoặc có thể dùng: cách 1-2 giờ
uống 0,5-1mg, tác dụng xuất hiện sau 2-3 giờ, không dùng quá 8mg/ngày. Dùng cho
đến khi hết đau (2-3 ngày) hoặc bắt đầu có rối loạn tiêu hóa.
- Có thể thay bằng các thuốc
chống viêm khác:
+ Phenylbutazon ngày đầu tiêm
1 ống 600mg IM, ngày sau tiêm 1 ống, từ ngày thứ 3 thay bằng uống
200-400mg/ngày.
+ Diclofenac 75mg tiêm 1 ống
trong 3 ngày sau đó chuyển sang uống 100mg/ngày.
+ Các thuốc chống viêm
non-steroid khác. Tuyệt đối không dùng thuốc steroid mặc dù giảm đau nhanh nhưng
làm tăng acid uric máu, đẩy nhanh bệnh sang thể mạn tính.
2. Điều trị Goutte mạn
tính và dự phòng cơn Goutte cấp tái phát.
2.1. Chế độ ăn
uống sinh hoạt.
- Kiêng rượu và các thứ kích
thích như ớt, cafe, thuốc lá...
- Hạn chế ăn thức ăn có nhiều
purin như: phủ tạng động vật (lòng, gan, tim, tiết...), thịt, cá, cua, nấm, rau
dền, đậu Hà lan, đậu hạt các loại. Thịt ăn mỗi ngày dưới 100g. Có thể ăn trứng,
sữa, uống bia, hoa quả.
- Uống nhiều nước (2
lít/ngày), nên uống các loại nước khoáng có nhiều bicacbonat, nếu không thì uống
dung dịch bicacbonat Na 3%.
- Tránh làm việc quá sức,
tránh lạnh, tránh ăn uống quá mức, không dùng thuốc lợi tiểu thiazid,
steroid.
2.2. Thuốc hạ acid
uric máu.
- Thuốc tăng thải acid uric: dùng một trong
các thuốc sau đây:
+ Benemid (Probenecid) viên
500mg, ngày 1-2 viên.
+ Anturan (Sunfinpyzaron) viên
100mg, 2-3 viên/ngày.
+ Amplivix (Benziodazon) viên
100mg 1-2 viên/ngày.
+ Désuric (Benzbromaron) viên
100mg 1-3 viên/ngày.
Thuốc uống chia làm nhiều lần
trong ngày, nếu có biểu hiện tác dụng phụ thì đổi thuốc khác, nếu có biểu hiện
thận thì chuyển sang nhóm thuốc ức chế acid uric.
- Thuốc ức chế acid uric: chỉ
định trong các trường hợp có sỏi thận, Goutte mạn tính có u cục.
+ Allopurinol (Zyloric) viên
100mg uống 2 viên/ngày rồi tăng dần 4 viên/ngày.
+ Thiopurinol viên 100mg dùng
như trên.
+ Acid orotic (oroturic,
epuric) uống 2-5g/ngày.
+ Urat oxydase (uricozym) tiêm
IV 1000UI/ngày.
Trong quá trình dùng thuốc
giảm acid uric cần theo dõi lượng acid uric máu và nước tiểu để điều chỉnh liều
lượng và thay đổi loại thuốc, nói chung phải dùng kéo dài để duy trì nồng độ
acid uric máu dưới 7mg% (416μmol/l).
Tác giả
Bs Mai Trung Dũng
theo dieutridau.com
-----------------------------------Giảng Đường Y Khoa
http://giangduongykhoa.blogspot.com
http://giangduongykhoa.net
tháng 11 27, 2010
Posted in: 

0 nhận xét:
Đăng nhận xét